Chương 1: Giới thiệu đề tài, trong chương này tác giả nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp và phạm vi nghiên cứu của Luận văn, đóng góp và bố cục Luận văn. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây, Luận văn sẽ trình bày về lý thuyết giới hạn vốn mềm và các nguồn lực kinh tế, đồng thời tác giả cũng trình bày tổng quan các nghiên cứu trên thế giới về giới hạn vốn mềm, tư nhân hóa, sở hữu Nhà nước và nắm giữ tiền mặt. 123doc 6 Chương 3: Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, tác giả sẽ trình bày khái quát một góc nhìn về thị trường tài chính Việt Nam, các giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, cơ sở dữ liệu, mô tả các biến độc lập, biến phụ thuộc và biến giả của mô hình. Chương 4: Kết quả nghiên cứu, trong chương này tác giả sẽ thực hiện các kiểm định nhằm chứng minh ảnh hưởng của hiệu ứng giới hạn vốn mềm đại diện là tỷ lệ sở hữu Nhà nước đến lượng tiền mặt nắm giữ của các công ty Việt Nam.
Chương 5: Kết luận, tác giả đúc kết lại kết luận của bài nghiên cứu và đưa ra những hạn chế của đề tài. Chính từ những hạn chế của đề tài này sẽ là tiền đề cho những bài nghiên cứu sau này. 123doc 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Tổng quan lý thuyết giới hạn vốn 2.1 Lý thuyết về giới hạn vốn mềm và các nguồn lực kinh tế Trong bài nghiên cứu kinh điển về lý thuyết “Giới hạn vốn mềm - Soft budget constraints”, Kornai (1979 và 1980) đã đưa ra các định nghĩa về sự thiếu hụt các nguồn lực kinh tế như giới hạn về nguồn lực, giới hạn về nhu cầu và đặc biệt là giới hạn về vốn hay còn gọi là giới hạn về nguồn tài trợ của các doanh nghiệp. Đầu tiên, Kornai (1979 và 1980) cho rằng, hạn chế về nguồn lực là việc thiếu hụt các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó dẫn đến việc doanh nghiệp không thể tạo ra đủ các hàng hóa đáp ứng cho nhu cầu của toàn xã hội.
Đó có thể là những giới hạn về thể chất hay sự hạn chế trong kỹ năng làm việc của người lao động. Chẳng hạn như việc thiếu hụt lực lượng lao động lành nghề cho nhu cầu sử dụng máy móc để sản xuất hay việc thiếu hụt nguồn nguyên vật liệu và bán thành phẩm cho giai đoạn sản xuất kế tiếp để có thể tạo ra được một sản phẩm hoàn chỉnh. Tiếp theo, Kornai (1979 và 1980) cũng định nghĩa sự hạn chế về nhu cầu xảy ra khi doanh số của doanh nghiệp không vượt quá nhu cầu của người tiêu dùng tại một mức giá đã được xác định. Và cuối cùng, Kornai (1979 và 1980) cho rằng, giới hạn vốn nói chung của các doanh nghiệp là tình trạng doanh nghiệp bị thiếu hụt các nguồn tài trợ mà cụ thể ở đây là tiền mặt hay các tài sản có tính thanh khoản tương đương với tiền mặt để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp.
Giới hạn vốn gồm có giới hạn vốn mềm và giới hạn vốn cứng. Giới hạn vốn cứng xảy ra khi doanh nghiệp chỉ có thể sử dụng duy nhất nguồn tiền mặt từ lợi nhuận giữ lại nhằm mục đích chi trả hay thực hiện đầu tư vào các cơ hội đầu tư mới mà doanh nghiệp tin rằng sẽ mang lại tỷ suất sinh lợi cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, các khoản tiền mặt này phải đảm bảo được khả năng thanh toán các loại chi phí phát sinh từ việc bán hàng của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp bị giới hạn vốn cứng tất nhiên vẫn có thể sử dụng nguồn tài trợ đến từ nợ vay của các ngân hàng thương mại nhưng 123doc 8 với số lượng rất ít so với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp hay các ngân hàng chỉ tiến hành giải ngân sau khi đã xem xét và cân nhắc về khả năng thanh toán cũng như là tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Trái ngược với giới hạn vốn cứng, giới hạn vốn mềm được cho là xảy ra với các doanh nghiệp được các tổ chức chính trị mà cụ thể là Nhà nước trợ giúp khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính nhằm đưa doanh nghiệp thoát khỏi giai đoạn khó khăn hiện tại. Trong khi đó, với các doanh nghiệp được cho là có giới hạn vốn cứng như đã đề cập thì khi đã rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính, doanh nghiệp sẽ không thể tự vượt qua được mà sẽ đi đến phá sản vì không nhận được sự giúp đỡ hay hỗ trợ nào từ các tổ chức khác như các công ty bị giới hạn vốn mềm. Đây là một khái niệm khác về sự sống còn “survival” của một doanh nghiệp (Kornai, 1979). Một yếu tố khác giúp xác định một doanh nghiệp rơi vào tình trạng bị giới hạn vốn cứng hay bị giới hạn vốn mềm còn dựa vào yếu tố về khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp mà khả năng tăng trưởng phụ thuộc vào tình hình tài chính nội tại của doanh nghiệp, cụ thể là lượng tiền mặt được trích ra từ lợi nhuận giữ lại sẽ được xem là một doanh nghiệp có giới hạn vốn cứng. Các doanh nghiệp có giới hạn vốn cứng sẽ phụ thuộc rất lớn vào triển vọng và khả năng sinh lợi từ các cơ hội đầu tư trong tương lai để có thể tiến hành việc vay nợ, vì bất cứ một sự thất bại hay thua lỗ trong các cơ hội đầu tư cũng sẽ làm cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính và có thể sẽ dẫn đến phá sản. Trái lại, một doanh nghiệp mà khả năng tăng trưởng không phụ thuộc vào tình hình tài chính của doanh nghiệp cũng như là không quan tâm liệu rằng doanh nghiệp có đang lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính để đi đến phá sản hay không một khi xảy ra những khoản thua lỗ trong các dự án là một minh chứng khác cho các doanh nghiệp đang xuất hiện tình trạng giới hạn vốn mềm. Nhìn chung, các doanh nghiệp có giới hạn vốn cứng đại diện bởi các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân hay nước ngoài sẽ có hiệu quả hoạt động tốt hơn so với một doanh nghiệp giới hạn vốn mềm đại diện bằng các doanh nghiệp được kiểm soát bởi Nhà nước.
123doc 9 Cuối cùng, để có thể hiểu rõ hơn về giới hạn vốn mềm, bài nghiên cứu sẽ trình bày một sơ đồ nhằm tóm tắt và cung cấp một cái nhìn toàn diện hơn về chuỗi nguyên nhân tạo ra giới hạn vốn mềm cho các doanh nghiệp. Chuỗi nguyên nhân tạo ra giới hạn vốn mềm (Kornai, 2003) (1) Các yếu tố cấu (2) Động cơ của (3) Ảnh hưởng của trúc hệ thống các tổ chức hỗ trợ hiệu ứng giới hạn vốn mềm Theo Kornai (2003), các yếu tố mang tính xã hội và chính trị sẽ tạo ra động lực chính cho việc hình thành giới hạn vốn mềm. Kế đến, các động lực liên quan đến chính trị sẽ tạo ra các động cơ cho việc tiến hành hỗ trợ cho các doanh nghiệp do Nhà nước kiểm soát từ những chủ nợ hay các tổ chức liên quan đến Nhà nước nhằm cung cấp các nguồn tài trợ cho các doanh nghiệp đang trong tình trạng thua lỗ. Và cuối cùng, khi các điều kiện trên đã được hình thành thì hiệu ứng giới hạn vốn mềm (SBC) sẽ thực sự được tạo ra.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về giới hạn vốn mềm, tư nhân hóa, sở hữu Nhà nước và nắm giữ tiền mặt Quản trị hiệu quả tính thanh khoản hay khả năng thanh toán thông qua việc xác định lượng tiền mặt nắm giữ tối ưu từ lâu đã trở thành một nhiệm vụ thiết yếu và cấp bách đối với Giám đốc tài chính của các doanh nghiệp.
Chính vì thế, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trong các thập kỷ qua để tìm hiểu nguyên nhân và hậu quả của vấn đề về hiện tượng số lượng tài sản có tính thanh khoản bất ngờ được gia tăng mạnh mẽ trong bảng cân đối kế toán của các công ty trên toàn Thế giới. Một số lượng lớn các học giả đã xây dựng lên rất nhiều cách giải thích khác nhau về sự ảnh hưởng của các yếu tố đến lượng tiền mặt mà các công ty nắm giữ không chỉ ở trong một quốc gia mà còn mở rộng sang các quốc gia khác. Cụ thể là các cách giải thích bằng các động cơ của việc nắm giữ tiền mặt, nhu cầu để vượt qua những giới hạn về tài chính, sự xung đột về lợi ích giữa các bên liên quan trong một doanh nghiệp, đặc biệt là vấn đề về đại diện giữa cổ đông là người chủ và giám đốc là một người đại diện được quyền 123doc 10 đại diện cho công ty và thay mặt cho cổ đông để điều hành doanh nghiệp đã được thực hiện nhiều trong các bài nghiên cứu trước đây. Tuy nhiên, bài nghiên cứu này sẽ trình bày một vấn đề hoàn toàn mới về sự ảnh hưởng của hiệu ứng giới hạn vốn mềm (Soft budget constraint – SBC) được nghiên cứu khởi đầu bởi Kornai (1979), thông qua các công ty có sở hữu Nhà nước đến lượng tiền mặt được các công ty nắm giữ.
Bài nghiên cứu sẽ tổng quan lại các nghiên cứu trọng tâm về vấn đề giới hạn vốn mềm, sự tư nhân hóa thông qua tỷ lệ sở hữu Nhà nước và hiệu quả hoạt động cho các doanh nghiệp cũng như là các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng, giá trị tài sản thanh khoản của công ty có sở hữu Nhà nước sẽ biến động như thế nào khi hiệu ứng giới hạn vốn mềm (SBC) tồn tại. Có rất nhiều bằng chứng được trưng ra liên quan đến tình trạng kém hiệu quả trong hoạt động của các doanh nghiệp quốc doanh trong nền kinh tế, điển hình là nghiên cứu của Vining và Boardman (1992) về vấn đề tư nhân hóa. Vining và Boardman (1992) đã kết luận rằng, các công ty được sở hữu bởi 100% tư nhân là hiệu quả hơn đáng kể so với các công ty tư nhân được sở hữu một phần bởi Nhà nước (MEs) hay các công ty bị kiểm soát toàn bộ bởi Chính phủ (SOEs), sau khi đã kiểm soát các yếu tố về quy mô, thị phần và một số nhân tố ảnh hưởng khác. Từ đây cho thấy, cấu trúc sở hữu đã có một ảnh hưởng tách biệt so với sự cạnh tranh.