Đặt vấn đề Thanh long có tên khoa học là Hylocereus spp., thuộc họ Xương rồng (Cactaceae) (Mizrahi và cộng sự, 1996). Hai giống thanh long được trồng phổ biến ở Việt Nam là thanh long ruột đỏ (Hylocereus polyrhizus) và thanh long ruột trắng (Hylocereus undatus). Thanh long là một nguồn cung cấp chất khoáng, glucose, fructose, chất xơ và vitamin (Farid và cộng sự, 2021). Thanh long ruột đỏ được nhiều người tiêu dùng ưa thích vì màu đỏ hấp dẫn và giàu dinh dưỡng.
Trong 100g thịt quả thanh long đỏ chứa trên 80 % nước, 0. Báo cáo của Suh và cộng sự (2014) đã chứng minh rằng betacyanins từ thanh long ruột đỏ có khả năng chống oxy hóa. Theo Hiệp hội rau quả Việt Nam (2021), hiện nay nước ta có 35,665 ha diện tích trồng thanh long (chiếm 93 % tổng diện tích và 95 % sản lượng của cả nước). Dù diện tích và sản lượng lớn nhưng giá cả và đầu ra của mặt hàng này liên tục bấp bênh.
Cụ thể, theo báo Lao Động, do ảnh hưởng dịch Covid-19 nên thanh long không xuất khẩu được sang thị trường Trung Quốc, đến cuối tháng 1 và trong tháng 2 năm 2020, sản lượng thanh long tồn đọng ước tính vào khoảng 30 ngàn tấn. Vào thời điểm đó thanh long được bán ở ven các con đường với giá rất thấp, chỉ 2,000 – 3,000 đồng/ kg. Nhiều hộ dân chấp nhận bỏ trái thanh long chín rục trên cây vì giá bán không đủ chi phí thu hoạch, vận chuyển. Ngoài ra, thanh long là loại trái cây có hàm lượng nước cao (≥ 80 %), các mô mỏng nên dễ hư hỏng (Nerd và cộng sự, 1999).
Theo Le Bellec và cộng sự (2006), quả thanh long chỉ giữ được chất lượng tốt trong 2 tuần ở 14 oC hoặc 1 tuần ở 20 oC. Do đó việc chế biến thanh long thành các sản phẩm khác để tăng thời gian bảo quản, giảm chi phí vận chuyển, đem lại lợi ích về kinh tế, nâng cao giá trị cho thanh long là một vấn đề cấp thiết. Trên thế giới đã có các đề tài nghiên cứu chế biến sản phẩm từ thanh long tươi như sản phẩm thanh long sấy (Mahayothee và cộng sự, 2018), nước ép thanh long, jelly thanh long, rượu thanh long, thu nhận pectin từ vỏ thanh long, hoặc trích ly dầu từ hạt thanh long (Jalgaonkar và cộng sự, 2020). Hiện nay thị trường trong và ngoài nước đã có sản phẩm thanh long sấy dẻo, sấy giòn chân không hoặc sấy thăng hoa.
Sản phẩm thanh long sấy giòn 1 chân không hoặc sấy thăng hoa mặc dù giữ lại nhiều chất dinh dưỡng nhưng những phương pháp này cần nhiều thiết bị phức tạp, tiêu thụ nhiều năng lượng (Bazyma và Kutovoy, 2005) nên giá thành sản phẩm thường cao. Sản phẩm thanh long sấy dẻo trên thị trường trong nước cũng có giá thành khá cao (85,000 đồng/ gói 225 g) và có ngoại quan không bắt mắt. Sản phẩm thanh long sấy dẻo thường được sản xuất bằng phương pháp sấy đối lưu ở nhiệt độ từ 40 oC – 70 oC (Bailey và Williams, 1965). Tuy nhiên, quá trình sấy này thường kéo dài khoảng 8 giờ – 24 giờ tùy thuộc loại trái cây, độ ẩm ban đầu của nguyên liệu, độ ẩm cuối mong muốn và nhiệt độ sấy (Fernandes và cộng sự, 2008).
Bên cạnh đó, phương pháp sấy đối lưu trong một thời gian dài hoặc ở nhiệt độ cao có thể làm một số tính chất vật lý quan trọng của các sản phẩm thay đổi như mất màu (Chua và cộng sự, 2000), thay đổi kết cấu, biến đổi các tính chất hóa học ảnh hưởng đến hương vị, hàm lượng chất dinh dưỡng (Mayor và Sereno, 2004). Vì vậy một số phương pháp tiền xử lý khác nhau như khử nước thẩm thấu (osmotic dehydration) và siêu âm kết hợp khử nước thẩm thấu (ultrasound-assisted osmotic dehydration) được áp dụng trước quá trình sấy đối lưu để làm giảm thời gian sấy, cải thiện cảm quan, chất lượng dinh dưỡng của sản phẩm sấy (Wang và cộng sự, 2018). Khử nước thẩm thấu là quá trình gây ra sự trao đổi nước và các chất hòa tan, giúp loại bỏ một phần nước của mô thực vật, giúp làm giảm đáng kể thời gian sấy, làm tăng tốc độ sấy (Bozkir và cộng sự, 2019), giúp bảo vệ hương vị, mùi thơm và cấu trúc của trái cây (Singh và cộng sự, 2008). Siêu âm kết hợp khử nước thẩm thấu (USOD) giúp tạo thành các vi kênh (microscopic channels), cải thiện tính thấm tế bào, tạo điều kiện cho sự thoát ẩm từ nguyên liệu ra bên ngoài (Rastogi và cộng sự, 2002), giảm cả chi phí xử lý và thời gian sấy (Garcia- Noguera, 2010).
Tác nhân thẩm thấu được sử dụng nhiều nhất cho trái cây là sucrose (Chandra và Kumari, 2014). Ngoài ra, erythritol cũng được sử dụng vì có tính ổn định cao trong môi trường acid, kiềm và có tác dụng kháng nhiệt. Đặc biệt, erythritol đã được báo cáo là có khả năng tiêu hóa tốt mà không gây khó chịu cho dạ dày (Cock và cộng sự, 2016). Phương pháp OD và USOD đã được nghiên cứu trên một số loại trái cây, chẳng hạn như táo (Mandala và cộng sự, 2005), kiwi (Prithani và cộng sự, 2020), dưa (Fernandes và cộng sự, 2008), đu đủ (Nimmanpipug và cộng sự, 2013), dâu tây (Cárcel và cộng sự, 2007) và anh đào (Siucinska và cộng sự, 2016).
Các mẫu kiwi đã xử lý USOD thoát ẩm nhanh hơn 16% so với các mẫu không xử lý (Prithani và cộng sự, 2020). Một nghiên cứu khác cho thấy rằng thời gian sấy khô dâu tây đã qua xử lý USOD giảm 28 % so với mẫu chuẩn (Amami và cộng sự, 2017). Theo những tài liệu mà chúng tôi tổng hợp được, phương pháp tiền xử lý 2 khử nước thẩm thấu và siêu âm kết hợp khử nước thẩm thấu chưa áp dụng cho sản phẩm thanh long sấy dẻo. Do đó, đề tài “Khảo sát ảnh hưởng của các phương pháp tiền xử lý đến động học quá trình sấy và chất lượng sản phẩm thanh long ruột đỏ (Hylocereus polyrhizus) sấy dẻo” được thực hiện nhằm mục tiêu rút ngắn thời gian sấy thanh long, cải thiện các đặc tính cảm quan, cấu trúc của sản phẩm, từ đó vừa có thể gia tăng giá trị kinh tế của thanh long, giải quyết vấn đề tồn đọng quả thanh long tươi khi vào mùa, vừa giúp đa dạng hóa dòng sản phẩm từ thanh long.2 Mục đích của đề tài Đề tài này được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của 2 phương pháp tiền xử lý là khử nước thẩm thấu (osmotic dehydration) và siêu âm kết hợp khử nước thẩm thấu (ultrasound-assisted osmotic dehydration) đến động học quá trình sấy đối lưu thanh long ruột đỏ ở nhiệt độ 60 oC, đồng thời đánh giá tính chất chất lượng của sản phẩm thanh long ruột đỏ sấy dẻo như hàm lượng betacyanin và khả năng chống oxy hóa, màu sắc và tỷ lệ co rút của sản phẩm.3 Nội dung nghiên cứu Đề tài “Khảo sát ảnh hưởng của các phương pháp tiền xử lý đến động học quá trình sấy và chất lượng sản phẩm thanh long ruột đỏ (Hylocereus polyrhizus) sấy dẻo” gồm các nội dung cụ thể như sau: - Khảo sát sự ảnh hưởng của hai phương pháp tiền xử lý khử nước thẩm thấu (Osmotic dehydration) và siêu âm kết hợp khử nước thẩm thấu (Ultrasound – assisted osmotic dehydration) đến sự mất nước và tăng chất khô của thanh long.
- Khảo sát sự ảnh hưởng của hai phương pháp tiền xử lý khử nước thẩm thấu (Osmotic dehydration) và siêu âm kết hợp khử nước thẩm thấu (Ultrasound – assisted osmotic dehydration) đến động học quá trình sấy đối lưu thanh long ruột đỏ. - Đánh giá ảnh hưởng của hai phương pháp xử lý khử nước thẩm thấu (Osmotic dehydration) và siêu âm kết hợp khử nước thẩm thấu (Ultrasound – assisted osmotic dehydration) đến các tính chất chất lượng của thanh long ruột đỏ sấy dẻo. - Đánh giá cảm quan thị hiếu đối với sản phẩm thanh long ruột đỏ sấy dẻo.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1.1 Ý nghĩa khoa học - Kết quả khảo sát ảnh hưởng của phương pháp tiền xử lý đến động học sấy và chất lượng thanh long sấy dẻo là nền tảng cho việc xây dựng, phát triển quy trình công nghệ sản xuất thanh long sấy dẻo. - Quy trình công nghệ mới áp dụng các phương pháp tiền xử lý phù hợp giúp làm tăng khả năng khuếch tán nước hiệu quả, cải thiện tốc độ sấy và giảm thời gian sấy, giúp giữ lại màu sắc, các chất chống oxy hóa.2 Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài góp phần đa dạng hóa sản phẩm trái cây sấy dẻo nói riêng và các sản phẩm từ thanh long nói chung, đồng thời giải quyết số lượng thanh long tồn đọng, tránh lãng phí.
- Quy trình công nghệ sản xuất thanh long ruột đỏ sấy dẻo sử dụng các phương pháp tiền xử lý có thể áp dụng ở quy mô công nghiệp giúp tiết kiệm năng lượng, chi phí sản xuất, giảm giá thành của sản phẩm. 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2.1 Tổng quan về thanh long 2.1 Giới thiệu Thanh long hay còn gọi là pitaya là quả của một số loài cây leo nhiệt đới khác nhau thuộc chi Hylocereus, họ Cactaceae. Thanh long có khả năng chịu hạn cao, dễ thích nghi với cường độ ánh sáng và nhiệt độ cao, có khả năng chống chịu với các độ mặn khác nhau của đất và mang lại lợi ích cho sức khỏe con người (Nobel và La Barrera , 2004). Thanh long được trồng đại trà ở hơn 20 quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới như Bahamas, Bermuda, Indonesia, Colombia, Israel, Philippines, Myanmar, Malaysia, Mexico, Nicaragua, Bắc Úc, Okinawa (Nhật Bản), Sri Lanka, nam Trung Quốc, nam Florida, Đài Loan, Thái Lan, Việt Nam, Bangladesh và Tây Ấn (Mercado và Silva , 2018).
Ruột và vỏ thanh long có hình dáng và màu sắc rất hấp dẫn, ví dụ, ruột đỏ với vỏ hồng (Hylocereus polyrhizus), ruột trắng với vỏ hồng (Hylocereus undatus); hoặc ruột đỏ tím ruột có vỏ đỏ (Hylocereus costaricensis) hoặc vỏ vàng và ruột trắng (Hylocereus megalanthus) (Muniz và cộng sự, 2019). Thanh long là cây dài ngày, lâu năm, một lần trồng có thể thu hoạch quả trong khoảng 20 năm. Cây cũng cho quả quanh năm nhờ công nghệ sản xuất trái vụ như thắp đèn ban đêm (Jiang và cộng sự, 2016). Hai loài thanh long là Hylocereus undatus (ruột trắng) và Hylocereus polyrhizus (ruột đỏ) được trồng phổ biến ở 63/ 65 tỉnh/ thành phố của Việt Nam.
Tổng diện tích trồng thanh long của Việt Nam đã mở rộng nhanh chóng từ 5,512 ha năm 2000 lên 55,419 ha năm 2018, với tổng sản lượng là 1,074,242 tấn và giá trị xuất khẩu đạt khoảng 1. Ngoài ra, theo Tổng cục Hải quan, thanh long chiếm 32 % tổng giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam (Hien và cộng sự, 2019).