CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO, KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Phong cách lãnh đạo trong trường đại học 1. Phong cách lãnh đạo trong tổ chức Phong cách lãnh đạo là những phương pháp hoặc cách thức nhà lãnh đạo thường dùng để gây ảnh huởng đến đối tượng bị lãnh đạo (Bryman, A.
Xét trên phương diện cá nhân, phong cách lãnh đạo chính là cách thức làm việc của nhà lãnh đạo. Phong cách lãnh đạo của một cá nhân là dạng hành vi của người đó thể hiện các nỗ lực ảnh huởng tới hoạt động của những người khác. Xét trên phương diện tổng thể, phong cách lãnh đạo là hệ thống các dấu hiệu đặc trưng hoạt động quản lý của nhà lãnh đạo, được quy định bởi đặc điểm nhân cách của họ. Hiện nay trên thế giới, có rất nhiều tác giả nghiên cứu về phong cách lãnh đạo trong các tổ chức khác nhau cụ thể: Tiếp cận theo đặc điểm, tố chất cần có của lãnh đạo: Xét trên phương diện tổng thể, PCLĐ là hệ thống các dấu hiệu đặc trưng chi phối hoạt động quản lý của nhà lãnh đạo, được quy định bởi đặc điểm nhân cách của họ.
Hiện nay, có rất nhiều tác giả nghiên cứu về PCLĐ trong các tổ chức và tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau, cụ thể: Theo tác giả House and Podsakoff (1994), “Nghiên cứu về phong cách lãnh đạo trong xã hội”, Tác giả cho rằng mô hình tính cách của các nhà lãnh đạo điển hình cần có: 1/ Tầm nhìn; 2/ Sự đam mê và đức hy sinh; 3/ Tin tưởng, sự quyết tâm và tính bền bỉ; 4/ Xây dựng hình ảnh tốt; 5/ Gương mẫu; 6/ Giao tiếp xã hội; 7/ Có khả năng phát động khi cần; 8/ Khả năng sắp xếp tốt; 9/ Khả năng truyền cảm. Theo tác giả, Tầm nhìn là khả năng nhìn trước vấn đề trong tương lai để lãnh đạo có thể lập kế hoạch. Đây là những đặc tính quan trọng nhất của người lãnh đạo giỏi vì nó phân biệt rõ ràng với người lãnh đạo tầm thường khác, những đặc tính đó là: Sự đam mê và đức hy sinh cho công việc và cho những người khác trong tổ chức. Đặc tính này thể hiện tình yêu, sự hy sinh của lãnh đạo; Tin tưởng, sự quyết tâm và tính bền bỉ là nhân tố mang lại thành công cho một người lãnh đạo.
Sự kiên trì để theo đuổi mục đích cuối cùng, sự tin tưởng tuyệt đối của nhân viên trong thực hiện công việc và cuộc sống; Xây dựng hình ảnh tốt đối với nhân viên thể hiện sự luan an 8 gương mẫu, tạo dựng niềm tin và uy tín với nhân viên của mình; Nhà lãnh đạo có năng lực cần phải gương mẫu để cấp dưới tôn trọng; Giao tiếp xã hội là đặc tính nhà lãnh đạo tài năng cần có; Có khả năng huy động, tập hợp mọi người khi cần; Khả năng sắp xếp tốt; Khả năng truyền cảm,… Đây là những kỹ năng quan trọng mang lại thành công cho nhà lãnh đạo. Trong nghiên cứu này tác giả đã chỉ ra được những đặc điểm cần có của một phong cách lãnh đạo trên cơ sở lý thuyết, nghiên cứu chưa xem xét tác động cụ thể của từng nhân tố đến các hoạt động trong tổ chức. Đây là một trong các nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu đã chỉ ra đặc điểm cần có của lãnh đạo trong tổ chức. Trên cơ sở đó cần chú trọng hướng tới đặc điểm nổi trội hơn để giúp cho lãnh đạo có được phong cách lãnh đạo tốt và đạt được hiệu quả cao trong giáo dục đại học.
Tác giả McShane và Von Glinow (2013), tác giả chỉ ra rằng, để trở thành một nhà lãnh đạo, cần hội tụ 7 nhân tố sau: Nhạy cảm; Chính trực; Nghị lực; Tự tin; Có động lực làm lãnh đạo; Trí thông minh; Kiến thức chuyên môn. Theo tác giả các nhân tố này được định nghĩa cụ thể như sau: “nhạy cảm” - nhà lãnh đạo luôn cảm nhận nhanh chóng về thái độ, tình cảm, mong muốn của nhân viên; “Chính trực” - là một trong các nhân tố được nhân viên mong đợi. Sự chính trực này làm cho nhân viên cảm thấy tin tưởng; một nhân tố quan trọng là cơ sở để nhân viên quyết định có tin tưởng đi theo lãnh đạo hay không; “Nghị lực” - giúp lãnh đạo vượt qua các khó khăn nội tại và ngoại cảnh, dám đương đầu với thách thức. Thể hiện sự khác biệt giữa lãnh đạo với nhân viên bình thường và đây là nhân tố giúp cho nhân viên càm thấy khâm phục lãnh đạo; “Tự tin” là nhân tố rất cần thiết trong quá trình làm việc nói chung và sử dụng trong các trường hợp đặc biệt nói riêng như diễn giải vấn đề trước công chúng; “Có động lực làm lãnh đạo” - Người lãnh đạo có thể tỏ ra họ có tham vọng hay không, song trên thực tế họ luôn cần có động lực làm lãnh đạo mới có thể là lãnh đạo thực thụ; “Trí thông minh” - Chỉ cần ở mức trung bình trở lên.
Người lãnh đạo giỏi không đòi hỏi quá cao yếu tố điều này. Tuy nhiên, điều đó cần thiết phải có để lãnh đạo có khả năng phân tích các vấn đề và cơ hội; “Kiến thức chuyên môn” - đây là nhân tố chỉ cần ở mức khá, chủ yếu để trợ giúp quá trình ra quyết định. Năng lực mỗi người có hạn, nếu lãnh đạo quá thiên về chuyên môn họ khó có đủ quỹ thời gian cho việc chính là lãnh đạo. Tất cả các tác giả trên chủ yếu nghiên cứu theo phương pháp định tính và dừng lại ở việc chỉ đặc điểm cơ bản cần có của một nhà lãnh đạo và phong cách lãnh đạo để đạt được mục tiêu đề ra của tổ chức.
luan an 9 Tiếp cận theo góc độ lý thuyết hành vi PCLĐ được các tác giả đề cập Nghiên cứu đầu tiên về phong cách lãnh đạo được thực hiện vào năm 1939 bởi Kurt Lewin, tác giả tiếp cận phong cách lãnh đạo theo hành vi lãnh đạo- đây là một trong những yếu tố quyết định lựa chọn một phong cách. Trên cơ sở tiếp cận đó, tác giả chỉ ra có kiểu phong cách lãnh đạo là: phong cách lãnh đạo độc đoán, phong cách lãnh đạo dân chủ. Theo tác giả, Phong cách lãnh đạo độc đoán: còn gọi là phong cách chuyên quyền, phong cách lãnh đạo theo hành vi xử phạt, phong cách lãnh đạo theo chỉ thị, phong cách lãnh đạo cương quyết. Họ không quan tâm đến ý kiến của người khác dù là đồng đội hay nhân viên mà chỉ hoàn toàn dựa vào kiến thức và kinh nghiệm của chính mình.
Phong cách lãnh đạo dân chủ: là phong cách mà người lãnh đạo khuyến khích nhân viên của mình tham gia vào quá trình ra quyết định, từ đó không cần phải giám sát chặt chẽ, lãnh đạo theo phong cách này là người biết tạo ra nhưng cuộc thảo luận giữa đội ngũ nhân viên để tìm ra một quyết định chung. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc xem xét và chỉ ra đặc điểm riêng biệt của các loại phong cách lãnh đạo trong tổ chức, chưa đề cập đến mô hình phong cách phù hợp trong từng bối cảnh cụ thể. Blake-Mouton & Jane Mouton (1960), “Lưới quản lý” và tiếp cận theo mức độ quan tâm công việc và quan tâm đến con người, nghiên cứu theo mô hình của Đại học bang OHIO – Mỹ, tác giả chỉ ra căn cứ vào mức độ quan tâm của nhà quản trị đến công việc có thể chia phong cách lãnh đạo thành: lãnh đạo quan tâm đến con người và quan tâm đến công việc theo các cấp độ (quan tâm đến sự phát triển của tổ chức, đến quyết định đầu tư cải tiến công nghệ mới, cải cách thủ tục hành chính, thay đổi lề lối làm việc…) và quan tâm đến con người (quan tâm đến nhu cầu của nhân viên, cải thiện môi trường làm việc, tăng lương thưởng, phúc lợi…). Phong cách của lãnh đạo có những đặc điểm nào sẽ sếp tương ứng với phong cách lãnh đạo theo cấp độ tương ứng.
Theo tác giả Feishman (1973), cho rằng: PCLĐ theo hành vi thể hiện: mức độ tập trung quyền lực và chú trọng đến hành vi của người lãnh đạo nhiều hơn là phẩm chất cá nhân của họ. Cách tiếp cận hành vi tập trung vào những gì nhà lãnh đạo làm chứ không phải là những đặc điểm mà họ có. Tác giả thực hiện nghiên cứu định tính, trên cơ sở phỏng vấn 53 người lao động tại Công ty xây dựng để chỉ ra (1) về mặt lý thuyết kiểm tra các định nghĩa xác định bản chất của phong cách lãnh đạo theo hành vi và mô hình khác nhau của phong cách lãnh đạo, từ đó tìm ra những khác biệt quan trọng trong phạm vi liên quan đến hành vi của nhà lãnh đạo, kết quả và định hướng trong sản xuất; (2) giải quyết một số mâu thuẫn rõ ràng trong tài liệu nghiên cứu thông luan an 10 qua phân loại kết quả lãnh đạo đạt được và năng lực phẩm chất thực tế của họ; (3) thực nghiệm chứng minh rằng người lao động cảm nhận về các phong cách lãnh đạo trong tổ chức xét theo các biện pháp khác nhau của cấu trúc theo những cách khác nhau; (4) Xem xét hành vi của nhà lãnh đạo (được đo lường theo những cách khác nhau) thể hiện ở sự rõ ràng và sự hài lòng của cấp dưới. Germano, (2010), “Ảnh hưởng của PCLĐ đến tổ chức”, tác giả chỉ ra PCLĐ có tác động đáng kể đến kết quả của tổ chức, không chỉ trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà còn ở các tập đoàn lớn trên thế giới… Nghiên cứu được thực hiện dưới góc độ phân tích hành vi lãnh đạo, tác giả chỉ ra ảnh hưởng của PCLĐ đến hiệu quả hoạt động thông qua kết quả khảo sát 350 người lao động và lãnh đạo doanh nghiệp.
Kết quả cho thấy có tác động thuận chiều giữa hành vi lãnh đạo và doanh thu của công ty (hệ số hồi quy 0,76 và p<0,05). Đây là một trong các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo đến kết quả hoạt động của tổ chức. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa chỉ ra các tác động cụ thể của phong cách của nhà trường để rõ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động thông qua chỉ tiêu về doanh thu, nghiên cứu chưa xem xét toàn diện các tác động của phong cách lãnh đạo lên các khía cạnh khác của kết quả hoạt động cũng như mẫu nghiên cứu trên mẫu nhỏ. Trong hai thập kỷ qua, phong cách lãnh đạo trong các tổ chức đã thay đổi nhanh chóng.
Một mặt, tốc độ phát triển công nghệ có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển tổ chức và phong cách lãnh đạo.