Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu sơ lược về cây cà gai leo 1.1 Nguồn gốc, lịch sử và phân bố Cây cà gai leo (Solanum procumbens Lour.) có nguồn gốc trong nước, là loại cây mọc hoang dại. Ở nước ta cà gai leo chủ yéu phân bố ở các tỉnh miền Trung và miền Bắc và được tìm thấy nhiều ở các tỉnh như Quảng Trị, Nam Định, Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội, Hòa Bình và cà gai leo cũng được tìm thay ở các nước Trung Quốc, Campuchia (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006).2 Phân loại thực vật Cà gai leo là cây ưa âm, ưa sáng, có khả năng chịu hạn cao, cây không chịu được ngập úng. Cà gai leo thích nghỉ trên nhiều loại khí hậu, nhiều loại đất.
Cả ba miền Bắc, Trung, Nam đều trồng được cây thuốc này. Phân loại thực vật: theo Viện dược liệu (1993), cây cà gai leo được phân loại: Giới (Regnum): Plantae Ngành (Divisio): Magnoliophyta Lớp (Classis): Magnoliopsida Bộ (Ordo): Solanales Ho (Familia): Solanaceae Chi (Genus): Solanum Loai (Species): S. procumbens Họ Ca (Solanaceae) là một họ thực vat có hoa nằm trong bộ cà (Solanales) với khoảng 96 chỉ với 3000 — 4000 loài. Chúng phân bồ trên tất cả các châu lục, trừ Nam 3 cực, với sự đa dạng loài chủ yếu ở Trung và Nam Mỹ, trong đó sự đa dạng loài lớn nhất là ở gần xích đạo.
Theo Vũ Văn Hợp (2006), ở Việt Nam họ cà đã được phát hiện và định danh bao gồm 15 chi với 61 loài phân bố rộng khắp từ Bắc vào Nam với nhiều vùng sinh thái khác nhau. Theo nghiên cứu đa dạng và sinh thái họ Cà của Nguyễn Hải Vân (2017): Họ Ca (Solanaceae) gồm cây thảo, bụi leo hay cây gỗ nhỏ cao 0,5 — 7m có gai, có lông hay nhẫn, đôi khi có nhựa, thuộc nhóm thực vật có hoa, bao gồm nhiều loài được dùng làm thực phẩm, cây cảnh, làm thuốc và nhiều loài có chứa glucozit dạng alkaloid có thể gây độc cho người và động vật. Theo Vũ Văn Hợp (2006), chi Solanum là chi lớn nhất trong họ Cà, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới ấm. Ở Việt Nam chi Solanum có 28 loài, các loài thuộc chi nay có giá trị thực tiễn: Làm thực phẩm, làm dược liệu và làm cảnh.
Các loài có tác dụng dược liệu thường chứa alkaloid — có thể có lợi hoặc gây độc, nên cần lưu ý khi sử dụng.2 Đặc điểm cơ bản của cà gai leo 1.1 Đặc điểm thực vật học Đặc điểm rễ Cà gai leo thuộc bộ rễ cọc, đây là bộ rễ điển hình của cây hai lá mam. Rễ non của cà gai leo có mau trắng với lớp lông hút phủ kín bề mặt, khi già chuyên mau nâu. Bộ rễ có khả năng ăn sâu nên giúp cây bám chắc vào đất và để vươn cảnh. Đặc điểm thân Cà gai leo thuộc loại cây nhỡ leo, thân dài 0,6 — 1 m hay hon (Đã Tất Lợi, 2005).
Cà gai leo có thân gỗ, phân cành nhiều, cành lá tỏa rộng, thân phủ rất nhiều lông che chở và gai cong màu vàng, nhọn, khoảng cách giữa các gai giảm dần từ gốc tới ngọn. Thân non có màu xanh, thân gia màu nâu xám. Dac điểm lá Cà gai leo có lá đơn, mọc cách, hình bầu dục, gốc lệch, phiến lá có thùy nông không đều, mặt trên xanh sim, mặt dưới xanh nhạt, hai mặt đều phủ lông che chở màu trắng và có gai ở gân lá, nhất là phía mặt trên, phiến dài 3 — 6 cm, rộng 2 — 5,5 cm, cuống lá dai 0,5 — 1 cm, có gai dài 4 - 5 mm. Đặc điểm hoa Cà gai leo có hoa màu trắng tím, mọc thành cụm từ 2 — 11 hoa mọc ở ngoài ké lá, hoa đều, lưỡng tính.
Cấu tạo hoa từ ngoài vào trong gồm: 4 đài màu xanh, phủ đầy lông che chở, 4 tàng hợp, tạo thành 4 thùy hình trái xoan nhọn, 4 nhị màu vàng, chỉ nhị phình ở gôc, bau trên, hợp, gôm 2 6 với lôi đính noãn trung trụ. Đặc diem quả Qua ca gai leo có dạng qua mong, hình cầu, nhẫn, khi non màu xanh lá cây nhạt đến đậm, khi chín có màu đỏ tươi, đường kính 5 — 7 mm. Cuống đài 1 — 1,5 cm, phủ đầy lông che chở, phình to ở phần sát quả, đài cũng phủ đầy lông che chở. Đặc điểm hạt Hat ca gai leo hình thận, màu vàng, kích thước 2 — 3 mm, tương đương với kích thước của hạt ớt hoặc cà chua, mỗi quả có từ 15 — 30 hạt.3 Điều kiện sinh thái Cà gai leo thích nghỉ trên nhiều loại khí hậu, nhiều loại đất: Đất phù sa, đất pha cát, đất ba gian.Cả ba miền Bắc, Trung, Nam đều trồng được cây thuốc này.4 Sâu bệnh hại Rệp sáp (Planococcus citri): Xuất hiện với lớp sáp trắng bao phủ trên bề mặt lá.
Rệp sáp thường tập trung thành đám ở ngọn cây, cuốn lá, hoa, quả và chồi non đề hút dịch cây làm cho chổi non bị héo , hoa qua rung, cây còi cọc, sinh trưởng phát triển chậm dẫn đến năng suất và chất lượng được liệu bị giảm sút nghiêm trọng. Tuyến trùng (Meloidogyn incognita): Gây sưng rễ, tương ru như nốt san hay mụn nhỏ trên rễ các cây họ cà, trứng tuyến trùng thường có sẵn trong đất, rễ cây đã phân hủy. Trứng tuyến trùng nở khi gặp điều kiện thích hợp, tan công vào rễ cây trồng thông qua các vết thương cơ giới trên rễ. Tuyến trùng phát triển quanh năm, được tìm thấy nhiều ở vùng đất cát âm và ấm.
Cây bị tuyến trùng tan công sẽ còi cọc, kém phát triển hơn bình thường.5 Giá trị của cây cà gai leo 1.1 Thành phần hóa học và giá trị dược liệu Glycoalkaloid: Tac dụng hoạt hóa enzyme collagenase làm phân hủy chuyền hóa collagen, đồng thời có khả năng ức chế sinh tổng hợp collagen, làm phân hủy collagen trong các tô chức viêm, xơ; chứng minh tác dụng của cà gai leo đối với bệnh viêm gan, xơ gan, giảm ton thương gan, làm hạ men gan. Flavonoid: Tác dụng trong các trường hợp rối loạn chức năng tĩnh mạch, suy yếu tĩnh mạch, giảm tôn thương gan, bảo vệ chức năng gan, giảm nhân bản của virus viêm gan C, chống co thắt ở túi mật, tăng co bóp, hồi phục tim, kháng khuẩn,. Steroid saponin: Có tác dụng chống viêm, trị ho, lợi tiểu, kháng khuẩn, tăng cường thé lực,. Carotenoid: Carotenoid là một chất chống oxy hóa mạnh, làm giảm nguy cơ ung thư, giảm thấp nguy cơ bệnh tim mạch, giảm nồng độ cholesterol máu, giảm tác hại của ánh năng mặt trời trên da,.
Coumarin: Chong co thắt, dan động mạch vành, chong đông máu, chong viêm, kháng HIV In vitro. Cà gai leo có thể dùng chữa ngộ độc rượu rất tốt, chống Say rượu, tác dụng giải rượu mạnh (Đỗ Tắt Lợi). Năm 1998, theo Nguyễn Phúc Thái nghiên về tác dụng bảo vệ gan của cà gai leo trên thực nghiệm, cà gai leo có tác dụng hạn chế tăng trọng lượng gan do nhiễm độc, giảm sự hủy hoại tế bào gan, ngăn chặn thoái hóa mỡ và hiện tượng chảy máu vi thể trong nhu mô gan. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Bich Thu và ctv, dịch chiết toàn phan cà gai leo có tác dụng chống viêm mạn, hoạt hóa collagenase phân hủy collagen, có tác dụng quan trọng trong việc điều trị viêm khớp, viêm rang lợi,.
Nguyễn Thị Bích Thu và ctv (1999) chứng minh được: Cao chiết toàn phần và Glycoalcaloid chiết từ cà gai leo có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của xơ trên mô hình xơ gan thực nghiệm và đồng thời dịch chiết của cà gai leo cũng có tác dụng chống oxy hóa. Dịch chiết toàn phần cà gai leo có tác dụng chống viêm mạn, hoạt hóa collagenase phân hủy collagen, có tác dụng quan trọng trong việc điều trị viêm khớp, viêm răng lợi,. Năm 2002, trong nghiên cứu bào chê thuôc chông viêm gan và ức chê xơ gan của Nguyễn Thị Bích Thu, dịch chiết của cây cà gai leo kích thích sự tăng trưởng của các tế bao lympho T, tăng khả năng miễn dịch của cơ thé, chống vi — rút viêm gan B va một số loại vi — rút gây ung thư gan (Hep 3B, PLC/PRF), ung thư cổ tử cung, .2 Giá trị kinh tế Sau khi được biết đến với công dụng tuyệt vời, hiện nay nhiều hộ nông dân và các doanh nghiệp đều tham gia canh tác và kinh doanh cây dược liệu quý này. Cà gai leo là một loại cây dễ trồng, mang lại hiệu quả kinh tế cao góp phần cải thiện đời sống người dân, xóa đói giảm nghèo.
Cây cà gai leo mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với các loại cây trồng khác trên cùng một diện tích. Mỗi năm cà gai leo có thé thu hoạch từ 2 — 3 vụ, năng suất 3 — 5 tan/ha/vu. cà gai leo tươi có giá khoảng 10.000 đồng/kg, cà gai leo khô khoảng 100. Với mỗi hecta trồng cà gai leo có thể đem lại thu nhập cho người trồng từ 80 — 100 triệu đồng (Hiền Mai, 2020).
Theo trung tâm Khuyến nông Quốc gia (2018), ông Nguyễn Phùng, ở khu phố I, phường An Đôn, thị xã Quảng Trị sau gần 4 tháng trồng đã cho thu hoạch những sản phẩm đầu tiên. Theo ước tính có thé thu hoạch liên tục trong 3 năm, mỗi năm 3 — 4 dot, năng suất đạt từ 3 — 5 tan/ha. Với giá bán từ 70.000 đồng/kg cà gai leo khô, tính ra với 1500 m? có thé mang lại cho gia đình ông thu nhập từ 15 — 20 triệu đồng. Theo Báo Quảng Bình (2018), được sự hỗ trợ của dự án phát triển sản xuất thuộc chương trình 135, 39 hộ dân của xã Xuân Trạch, huyện Trạch Bó, tinh Quảng Bình đã chuyền đổi hơn 2,2 ha đất nông nghiệp kém hiệu quả sang trồng cây cà gai leo.
Sau hai năm trồng thử nghiệm cho thấy, hiệu quả kinh tế từ loại cây dược liệu này cao hơn nhiều lân so với các loại cây trông khác.6 Các nghiên cứu hữu cơ vỉ sinh trên cây họ Cà 1.1 Phân hữu cơ vi sinh Phân bón hữu cơ vi sinh là loại phân bón trong thành phần chính chỉ có chất hữu cơ và các chất dinh đưỡng có nguồn gốc từ nguyên liệu hữu cơ. Phân bón hữu cơ vi sinh là phân bón hữu co mà trong thành phần được bồ sung thêm ít nhất 1 loại vi sinh vật có ích và vi sinh vật là chỉ tiêu chất lượng chính (QCVN 01-189:2019/BNNPTNT về Chất lượng phân bón). Sử dụng phân bón hữu cơ giúp tạo độ tơi xốp, tăng độ phì, lượng mùn hữu cơ trong đất, giữ lại các nguyên tố vi lượng, đa lượng cần thiết cho cây trồng.