Chương 1 TONG QUAN TÀI LIEU 1.1 Tổng quan về cây dưa leo 1.1 Nguồn gốc và phân bố Dưa leo (Cucumis sativus L.) thuộc họ bau bí (Cucurbitaceae) mang đặc tính sinh trưởng và phát triển thuộc họ bầu bí. Là một loại rau ăn quả thương mại quan trọng, được dùng lâu đời trên thế giới và trở thành thực phẩm thông dụng của nhiều nước, có nguồn gốc ở miền Tay An Độ. Cũng có ý kiến cho rằng dưa leo có nguồn gốc Nam A và được trồng vào khoảng 3000 năm trước (Tạ Thu Cúc, 2005). Theo Mai Thị Phương Anh và ctv (1996), cây dưa leo có nguồn gốc ở Việt Nam, trong quá trình giao lưu buôn bán thì được trồng phổ biến sang Trung Quốc va từ đây dưa leo được phát triển sang Nhật Bản và lên Châu Âu.
Hiện nay đưa leo đang được trồng khắp nơi trên thế giới, từ xích đạo đến 63° vĩ Bắc. Diện tích trồng dưa leo trên toàn thế giới đều tăng từ năm 2010 đến 2016 nhưng từ 2016 đến 2020 diện tích và sản lượng ngày càng giảm mạnh (năm 2020 diện tích 1.518 ha và sản lượng 72. Trên thé giới dua leo các nước dẫn đầu về năng suất là: Trung Quốc (56.750 tan); Thổ Nhĩ Kỳ (1. Ở nước ta, dưa leo hiện được trồng nhiều ở các vùng áp dụng các công nghệ san xuất trong nhà màng hiện đại như công nghiệp công nghệ cao An Thái tại xã An Thái, huyện Phú Giáo, tỉnh Binh Dương; khu nông nghiệp công nghệ cao tại Củ Chi, Thanh phố Hồ Chí Minh (Vũ Thị Quynh, 201 1).2 Đặc điểm thực vật học Rễ: thuộc loại rễ chùm, bộ rễ phát triển rất yếu.
tập trung hau hết ở tang dat mặt 30 — 40 em, rộng 50 — 60 cm, rễ ưa âm, không chịu được han, kha năng sinh trưởng mạnh, yếu của hệ rễ phụ thuộc vào nhiệt độ, độ 4m đất và thời gian bảo quan hạt giống. Dưa leo còn có thé hình thành rễ bat định nếu gặp điều kiện thuận lợi. Thân: thân dưa leo thuộc loại thân thao hằng niên, thân dai, có nhiều tua cuốn dé bám khi bò, chiều dài thân cây tùy điều kiện canh tác và giống, các giống canh tác ngoài 3 đồng thường dai từ 0,5 — 2,5 m. Sự phân nhánh của dưa leo còn chịu ảnh hưởng của nhiệt độ ban đêm.
Trong kỹ thuật tỉa cành, lưu giữ thân chính và số cảnh cấp 01 tùy theo điều kiện cụ thé (Tran Thị Ba, 2013). Căn cứ chiều cao cây dưa leo chia làm 3 nhóm: - Nhóm thân lùn: 0,6 - 1 m - Nhóm thân trung bình: 1 - 1,5 m - Nhóm thân cao: 1,5 - 3 m, có loại thân cao 4 - 5 m. Lá: gồm có lá mầm và lá thật, hai lá mầm mọc đối xứng qua trục thân. Lá mầm có hình trứng và là chỉ tiêu quan trọng đề đánh giá và dự đoán tình hình sinh trưởng của cây.
Lá thật có 5 cạnh, trên cuống lá có lông cứng, ngắn. Mau sắc lá thay đổi theo giống và chế độ phân bón. Lá đơn, to mọc cách trên thân, dang tam giác với cuống lá rất dai 5 — 15 cm rìa lá nguyên hay có răng cưa. Hoa: hoa có màu vàng, đường kính 2 — 3 cm.
Cây có hoa đơn tính đồng chu, đôi khi xuất hiện đơn tính biệt chu và dạng hoa lưỡng tính. Hoa cái mọc ở nách lá thành đôi hay riêng biệt. Hoa đực mọc thành cụm từ 5 — 7 hoa. Nhiệt độ 18 + 6°C, thời gian chiếu sáng 10 — 11 giờ/ngày, nồng độ CO> thích hợp, dinh dưỡng day đủ thì hoa cái xuất hiện sớm hơn và nhiều.
Nếu nhiệt độ cao, thời gian chiếu sáng dài (>14 giờ/ngày) hoa cái ra muộn và ở vi tri cao. Qua và hat: dưa leo thuộc loại quả thịt, thuôn dai, quả từ khi hình thành đến khi thu hoạch có màu xanh đậm, xanh nhạt, khi chin vỏ quả thường nhẫn hoặc có gai, mau xanh khi chín thương phẩm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng dưa leo. Hình dạng, độ dài, khối lượng, màu sắc quả thay đổi tùy giống. Quả dua leo thường thuôn dai, có 3 múi, hạt dính vào giá noãn.
Hạt màu trắng ngà, kích thước thay đổi tùy theo sự vận chuyển các chất dinh dưỡng của cây vào hạt, số hạt trong quả dao động 200 - 300 hạt.2 Điều kiện ngoại cảnh 1.1 Nhiệt độ Theo Phạm Hồng Cúc và ctv (2001), nhiệt độ nảy mầm thích hợp của hạt dưa leo phải cao hơn 12°C. Nhiệt dộ thích hợp cho cây sinh trưởng, phat dục là 18 — 32°C. Nhiệt 4 độ thấp hơn 5°C hay cao hơn 40°C làm cây ngừng sinh trưởng. Nhiệt độ thích hợp để trái lớn nhanh 25 — 30°C.
Nhiệt độ dưới 15°C cây phat sinh trang thái mat cân bằng giữa đồng hóa và dị hóa. Tuy nhiên dưa leo cũng như các cây trong họ bầu bí rất mẫn cảm với sương giá, đặc biệt là nhiệt độ thấp nhất về ban đêm 3 - 4°C (Lê Thị Khánh, 2009).2 Ánh sáng Dưa leo thuộc nhóm cây ưa sáng, ngày ngắn. Độ dài chiếu sáng thích hợp cho sinh trưởng và phát dục là 10 — 12 giờ/ngày. Cường độ ánh sáng thích hợp cho dưa leo trong phạm vi 15.
Anh sáng thiếu va yếu cây sinh trưởng, phát triển kém ra hoa cái muộn, màu sắc hoa cái nhạt, vàng úa, hoa cái đễ bị rụng, năng suất quả thấp, chất lượng giảm, hương vị kém.3 Độ 4m Quả dưa leo chứa đến 95% nước nên yêu cau độ âm của cây rất cao. Độ am thích hợp cho dưa leo là 85 — 95%, độ âm không khí 90 — 95%, Cây dưa leo chịu han rất yếu, thời kỳ ra hoa cây cần lượng nước cao nhất. Thiếu nước cây không những sinh trưởng kém mà còn tích lũy lượng cucurbitaxina là chất gây dang trong quả. Thời kì cây ra hoa cần lượng nước cao nhất (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996).4 Dinh dưỡng Nghiên cứu về hiệu suất sử dụng khoáng chủ yếu của dưa leo cho thấy rằng dưa leo sử dụng kali với hiệu suất cao nhất, thứ hai là đạm rồi đến lân.
Nếu bón 60 kg N, 60 kg KaO, 60 kg P2Os thì dưa leo sử dụng 92% N, 33% P20s và 100% K20.3 Các thời kỳ sinh trưởng và phát dục của cây dưa leo Theo Phạm Hồng Cúc va ctv, 2001 giai đoạn sinh trưởng và phát dục của họ bầu bí phân thành 5 thời kỳ chính: 1.1 Thời kỳ nảy mầm (từ khi mọc đến khi 2 lá mầm) Hat dưa leo tương đối lớn, chứa nhiều dinh dưỡng nên mọc mam khá mạnh. Yếu tố quan trọng trong thời kỳ này là nhiệt độ. Thời kỳ này cây yêu cầu nhiệt độ cao, phải lớn hơn 120C thì hạt mới có khả năng nảy mầm, nhiệt độ thích hợp nhất là 25 — 300C, nhiệt độ dưới 10°C hạt không mọc mam.2 Thời kỳ cây con (từ khi cây có 2 lá mầm đến 4 — 5 lá thật) Thời kỳ này bộ phận trên mặt đất sinh trưởng chậm. Thân sinh trưởng rất chậm, lá nhỏ, lóng thân nhỏ và ngắn, thân ở trạng thái đứng thăng chưa phân cành.
Bộ phận dưới mặt đất phát triển nhanh cả về độ sâu và bề rộng, khả năng ra rễ phụ rất mạnh. Vì vậy, cần cung cấp thêm phân bón, tưới giữ âm dé kích thích rễ phát triển, thúc day sinh trưởng thân lá và chú ý phòng trừ sâu bệnh.3 Thời kỳ ra hoa (từ khi cây có 4 — 5 lá thật đến khi có hoa cái đầu tiên) Khi cây có 4 — 5 lá thật thì thân sinh trưởng mạnh, số lá, diện tích lá, chiều dài, đường kính thân tăng vượt trội so với thời kỳ cây con, tua cuốn và nhánh được hình thành liên tục. Thân chuyền từ trạng thái đứng thẳng sang bò, hoa đực ra nhiều và có hoa cái đầu tiên. Ở thời kỳ này thường xảy ra tình trạng mất cân đối giữa sinh trưởng và phát triển đến thân lá nhiều, hoa quả ít nếu chăm bón không đúng kĩ thuật.
Vì vậy cần chú ý cân đối dinh dưỡng, điều tiết nước đề cho năng suất cao.4 Thời kỳ quả (từ khi có hoa cái thứ nhất đến hình thành quả tập trung) Cây phát triển rất mạnh, khối lượng thân, lá, quả trên mặt dat và khối lượng dưới mặt đất đạt tôi đa. Quả được hình thành một cách liên tục, quả tăng nhanh về kích thước và khối lượng, quả phát triển cân đối, mẫu mã đẹp. Năng suất và chất lượng quả tốt nhất, phan trăm số quả thương phẩm cao. Đây là thời kỳ cây yêu cầu nhiều nước và đinh dưỡng nhất.
Vì vậy cần cung cấp lượng phân bón hợp lí, thu hoạch trái đúng độ thương phẩm nhằm tăng sản lượng.5 Thời kỳ già cỗi (từ sau trái rộ đến tàn) Ở thời kỳ này sinh trưởng của thân lá giảm nhanh chóng, hoa trái ít, trái ít đậu, hình dang quả không bình thường, pham chất kém trái nhỏ, năng suất và chất lượng qua giảm rõ rệt. Can chú ý chăm sóc dé kéo dài sự làm việc của lá làm tăng năng suất của lứa cuối vụ, giảm tỉ lệ đèo.4 Sau bệnh hại trên cây dưa leo Theo Phạm Văn Biên và ctv (2003), cây dưa leo thường xuất hiện một số loại sâu, bệnh hại: 1.1 Sâu hại Sâu xanh ăn lá (Diaphania indica): Sâu non dai khoảng 8 - 10 mm, màu xanh lá cây nhạt, trên lưng có 2 sọc trắng chạy dọc cơ thể. Sâu non thường sống ở đọt cây và 6 mặt dưới lá non, nhả tơ cuốn lá non lại ở bên trong đó cắn đọt và lá non, khi có quả non sâu gặm quả làm vỏ san sùi loang lỗ. Sâu xanh ăn lá phat sinh gây hại từ khi cây dưa còn nhỏ đến khi có quả, nhiều nhất là khi cây bắt đầu ra hoa và có quả non.
Rui đục lá (Liriomyza trifolii): sâu non đục lớp biểu bi lá thành những đường vòng véo màu trắng có thé nhìn thấy con doi và phân của chúng trong các đường đục. Rudi đục lá có thé phát sinh phá hại rất sớm từ cây mới mọc đến khi ra hoa, có trái. Bo trĩ (Thrip palmi): bọ trĩ còn gọi là bù lạch. Bọ trĩ có kích thước rất nhỏ, dài khoảng 1 mm.
Bọ trĩ sống tập trung ở đọt hoặc mặt dưới lá non. Bọ trĩ hút nhựa làm lá non xoăn lại, có nhiều đốm nhỏ màu vàng nhạt. Cây bị bọ tri gây hại có hiện trowngj không vươn lóng, quả không phát triển, hình đạng xấu. Bọ trĩ phát triển nhanh trong điêu kiện thời tiệt nóng vả khô, có sức kháng thuôc và mau quen thuôc.
Rép muội (Aphis gossypii): rệp muội còn gọi là ray mềm. Rệp muội rất nhỏ, dai khoảng Imm, hình quả lê, trần trụi và mềm. Mau sắc thay đổi từ vàng nhạt đến xanh thẫm hoặc xanh đen tùy theo mùa.