Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới và trong nước 1.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới Rau là cây trồng ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế cao nên đã được con người trồng và sử dụng lâu đời. Hiện nay trên thế giới diện tích trồng rau ngày càng tăng. Theo Trung tâm rau quả thế giới, rau là loại cây có tốc độ tăng diện tích đất trồng nhanh nhất thế giới. Nhiều khu vực trước đây trồng ngũ cốc và bông sợi hoặc bỏ hoang thì nay cũng chuyền sang trồng các loại rau có giá trị kinh tế cao (Châu Á cũng là khu vực có tốc độ tăng diện tích trồng rau cao nhất trên thế giới hiện nay.
Trung Quốc là một quốc gia phát triển rộng lớn nhất châu lục, tốc độ tăng trưởng của ngành rau gần bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này. Theo số liệu gần đây nhất, năm 2020 diện tích trồng rau trên thế giới khoảng 21.391 nghìn ha, năng suất đạt 140.818 ta/ha, sản lượng đạt 297.1 Tình hình sản xuất rau của một số nước trên thế giới năm 2020 ; Dién tich (nghin Nang suat ; Quoc gia San lượng (nghìn tan) ha) (ta/ha) Toan thé giới 21.087 Lién Bang Nga 107.112 (Nguôn: FAOSTAT, 2023) Trong các quốc gia Trung Quốc có diện tích trồng rau lớn nhất và chiếm tới 52,13% (11.191 nghìn ha) diện tích rau thế giới, trong khi đó Brazil chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ bằng 0,17% (24.681 nghìn ha) diện tích rau của thế giới. Đứng thứ 2 sau Trung Quốc là AN Độ có điện tích là 2.190 nghìn ha, tiếp theo là Việt Nam có diện tích 865. Nhật Bản là nước có năng suất rau cao nhất trên thế giới (224.187 tạ/ha) và cao hơn năng suất của thế giới đạt 83.
Đứng thứ 2 là Liên Bang Nga (198.258 ta/ha) có năng suất lớn hơn thế giới là 57.440 ta/ha,tiép theo là Việt Nam có năng suất là 171. Thấp nhất là Philipin có nắng suất là 83.431 tạ/ha, thấp hơn năng suất của thé giới là 57.387 tạ/ha, thấp hơn năng suất của Nhật Ban là 140. Trung Quốc có sản lượng rau lớn nhất trong các quốc gia đạt 174.648 nghìn tấn rau, chiếm tới 58,75% sản lượng rau của thế giới. Xếp thứ hai là An Độ có sản lượng 34.087 nghìn tan, tiếp theo là Việt Nam có sản lượng là 14.
Thấp nhất là Italy sản lượng chỉ đạt 1.2 Tình hình sản xuất rau trong nước Theo Bộ NN&PTNT, năm 2021, cả nước trồng khoảng 995.000 ha rau các loại, năng suất 186 tạ/ha, sản lượng 18,5 triệu tấn. Từ đầu năm 2021 đến nay, sản lượng các loại đạt khoảng 12,5 triệu tấn, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Riêng khu vực phía Nam, sản lượng ước đạt 7,2 triệu tấn. Thị trường rau trong nước đang có cơ hội phát triển thuận lợi nhờ sự gia tăng của tầng lớp trung lưu với thu nhập khả dụng cao hơn, tốc độ đô thị hóa, thay đổi thói quen tiêu dùng và đặc biệt là trào lưu tăng cường thực vật tươi trong bữa ăn cũng như xu hướng ăn chay.
Xét về cả giá trị và khối lượng, phân khúc rau được dự báo sẽ tăng trưởng với tốc độ trung bình nằm cao trong giai đoạn từ nay đến năm 2025 do nhu cầu của người dân đôi với sản phâm tươi sông. Nghề trồng rau Việt Nam có những lợi thế sau: Khí hậu nhiệt đới phù hợp cho nhiều loại rau sinh trưởng và phát triển. Có nguồn lao động dồi dao, giá nhân công thấp. Nhiều vùng có tập quán trồng rau lâu đời, có thể trồng các loại rau có nguồn gốc ôn đới quanh năm.
Có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng và dé giống các loại rau. Thị trường tiêu thụ lớn, người dân có tập quán tiêu dùng rau. Trong những năm, qua nhờ cơ chế thị trường đã có nhiều công ty liên doanh với nước ngoài, 100% vốn nước ngoài vào Việt Nam buôn bán đã tạo ra một thị trường giống mới làm phong phú thêm chủng loại giống rau. Những tiến bộ kỹ thuật trong nước và thé giới đã được áp dụng nhanh chóng vào sản xuất rau.
Vì vậy, các vùng trồng rau ở ngoại thành của các thành phố lớn đã từng bước cung cấp rau quanh năm cho người tiêu dùng. Bên cạnh đó cũng có không ít khó khăn: Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo điều kiện cho sâu bệnh phát sinh nhiều. Do vậy, người dan dùng thuốc bảo vệ thực vật rất nhiều, thiếu kiểm soát. Chính điều đó đã gây nên hiện tượng kháng thuốc, càng làm cho sâu bệnh phát triển mạnh hơn, chỉ phí sản xuất cao nhưng hiệu quả phòng trừ sâu bệnh thấp, đồng thời đã làm cho lượng thuốc tồn dư trong sản phâm nhiều dẫn đến chất lượng rau không an toàn, ảnh hưởng lớn đến việc xuất khâu rau của nước ta.
Ngoài ra, ở một số vùng, điều kiện khí hậu khắc nghiệt cũng đã tạo nên thời kỳ giáp vụ rau trong năm, chủng loại rau nghèo nàn, sỐ lượng và chất lượng đều giảm so với chính vụ. Sản xuất ở nước ta phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, nên rủi ro trong sản xuất lớn. 5 Nguồn đất, nước trồng rau ở một số nơi bị ô nhiễm. Vấn đề an toàn thực phẩm là van đề rất nan giải trong sản xuất rau hiện nay.
Quy trình sản xuất rau an toàn đã được ban hành song việc tổ chức sản xuất và kiểm tra, giám sát thực hiện quy trình chưa tốt, kết hợp với trình độ dân trí và tính tự giác thấp của người sản xuất, người bán đã cho ra các san phâm không an toàn, giảm sức cạnh tranh của sản phẩm rau, gây mat lòng tin đối với người tiêu dùng. Ngoài ra, do chưa có chế độ, chính sách hỗ trợ giá cả hợp lý, cũng như việc thiết lập mạng lưới tiêu thụ cho vùng chuyên canh dé khuyến khích người dân trồng rau an toàn. Trình độ tổ chức, quản lý còn thấp. Giống rau: thiếu bộ giống tốt cho từng vùng sinh thái, nhiều loại giống phải nhập nội, giống bị thoái hóa, pham chat kém, việc sử dụng giống ưu thé còn hạn chế (Phạm Hữu Nguyên, 2008).2 Tổng quan về cây cải thìa 1.1 Nguồn gốc và phân loại Cải thìa hay cải be trắng, còn có tên là Bạch giới tử (Brassica chinensis L.) có nguồn gốc từ Trung Quốc, trước thé ki 15, những năm sau đó được du nhập vào Việt Nam cho đến nay (Trung Tâm Dữ Liệu Thực Vật Việt Nam — BVNGroup).
Giới: Plantae Nghành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Capparales Họ: Cruciferea Chi: Brassica Loai: B. Sinensis Tén hai thanh phan: Brassica chinensis L.2 Đặc điểm thực vat học Theo Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam, cải thìa có các đặc điểm thực vật học sau: Cây thân thảo sống 1 năm hoặc 2 năm, cao 25 — 70 cm. Rễ không phinh thành củ, rễ chùm, ăn nông, kém phát triển, đôi khi có thể ăn sâu đến 50 em nhưng không rộng quá 30 cm, chịu hạn kém. Thân: Trục thân chính của cải thìa ngắn và dày, nhiều đốt, không phân nhánh và được bao bởi một lớp vỏ xốp, lớp này có tác dụng kìm hãm 6 sự phát triển của thân.
Lá có cuống hình lòng máng, có màu trang, cây mọc gon, khang bệnh tốt, độ đồng đều cao lá hơi tròn, màu xanh nhạt, bẹ dẹt, màu xanh non, bẹ lá lớn, phát triển tốt, cho năng suất cao trong thời gian ngắn. Hoa màu vàng tươi hợp thành chùm ở ngọn; hoa dai | - 1,4 cm, có 6 nhị. Ra hoa vào mùa xuân. Quả cải dài 4 - 11cm, có mỏ.
Hat tròn, đường kính 1 - 1.5 mm, màu nâu tím, hạt nhỏ P.3 Giá trị của cây cải thìa Theo Cơ sở đữ liệu dinh dưỡng quốc gia của Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ (USDA), 1 chén cải thìa sống, nặng 70g chứa 9 keal, carbohydrates 1,53 g, chất xơ 0,7 g, chất béo 0,067 g, protein 1,05 g, vitamin A 156ng, vitamin C 31,5 mg, calcilum 74 mg, iron 0,8 mg, magnesium 13 mg, sodium 67 mg. Ngoài ra cải thìa còn có các tác dụng dược liệu như: chữa bệnh loét khoang miệng, viêm lưỡi, làm thuốc thanh nhiệt, nước ép cải thìa có lợi cho trẻ em trị nội nhiệt, trị bệnh hoại huyết, thông khí đờm, làm ấm tì vị và kích thích tiêu hóa, suyễn thở, bụng đầy đau, nôn mửa do lạnh (Nguyễn Thị Hoàng Uyên, 201 1).4 Nhu cầu sinh thái Về nhiệt độ, hạt cải nảy mầm ở nhiệt độ 15 — 20°C, nhiệt độ > 30°C hoặc < 10°C thì hạt không nảy mầm hoặc tỉ lệ nảy mầm thấp, cây sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 15 — 20°C (Dương Hồng Phong, 2021). Theo Nguyễn Câm Long (2014), cây cải không kén đất, nó có thể sinh trưởng và phát triển, cho năng suất cao ở các loại đất khác nhau, từ đất cát pha đến đất thịt nặng nhưng thích hợp nhất là đất giàu dinh dưỡng, khả năng giữ am tốt; cải cần nhiều dam, lân, kali, trong đó đạm được sử dụng nhiều nhất. Yêu cầu độ am đất khoảng 60%, độ âm không khí khoảng 70% - 80%.
Cải thìa là cây ưa thích ánh sáng dai ngày, cây quang hợp ở cường độ ánh sáng 20.000 lux; nếu cường độ ánh sáng quá mạnh sẽ làm ảnh hưởng đến phẩm chất và sinh trưởng của cây; ngược lại nếu thời gian chiếu sáng ngắn, cường độ chiếu sáng quá yếu cũng làm giảm hàm lượng dinh dưỡng trong sản phẩm (Mai Thị Phương Anh, 2019). Ngoài ra, cải thìa là loại cây yêu cầu âm độ đất và ẩm độ không khí khá cao do có bộ rễ phân bố cạn, bộ lá lớn nên cải thìa cần được cung cấp nước thường xuyên; thiếu nước sẽ ảnh hưởng đến phẩm chất cải, các bó gỗ sẽ phát triển mạnh làm lá cứng 11 và đắng, năng suất cải sẽ thấp vì lượng 7 vật chất tạo ra thấp, lá héo do quá trình bốc thoát hơi nước của cây, đầy đủ nước thì lượng vật chất tạo ra sẽ cao. Tuy nhiên, nhiều nước quá cũng làm cho lượng đường trong sản phẩm giảm, khả năng chống chịu sâu bệnh kém và cây dé bị ung nước (Mai Thị Phương Anh, 1996).5 Phòng trừ sinh vật gây hại Theo Pham Anh Cường — Nguyễn Mạnh Cường (2007), cải thìa có các loại sâu bệnh chính sau: Bọ nhảy (Phyllotreta striolata): Thường bò lên mặt lá ăn phá vào lúc sáng sớm và chiều tối, can ling khắp mặt lá, làm lá có thé bị vàng và rụng. Sâu non ăn rễ cây làm cây bị còi cọc, đôi khi héo hoặc thối.
Xuất hiện gây hại trên cải rất sớm, gây hại cả giai đoạn cây con cho đến lúc thu hoạch. Sâu tơ (Plutella xylostella): Sâu non mới nở bò lên mặt lá gặm biểu bì tạo thành những đường rảnh nhỏ ngoằn ngoéo.