chương 1 Môi trường kinh tế vĩ mô luôn được xem là động lực để phát triển TTCK, điều này càng đặc biệt có ý nghĩa hơn đối với TTCK Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, khi mà thị trường đang trong giai đoạn trầm lắng và ảm đạm nhất trong chặng đường 11 năm thành lập và phát triển, chính vì lẽ đó tác giả đã chọn đề tài “Ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô đến TTCK” để nghiên cứu, tác giả hy vọng rằng những phát hiện trong nghiên cứu sẽ thực sự hữu ích không chỉ riêng các nhà đầu tư, các công ty chứng khoán mà còn đối với những nhà hoạch định chính sách. 123doc 5 CHƯƠNG 2: NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 2.1 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giớí về sự ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán Các biến số kinh tế vĩ mô đều tác động tới dòng tiền trong tương lai và lợi suất yêu cầu vì thế sẽ ảnh hưởng tới giá cổ phiếu của TTCK. Những thông tin về các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến TTCK được rất nhiều các đối tượng quan tâm và thực sự hữu ích cho những nhà hoạch định chính sách, các nhà đầu tư, các công ty niêm yết, CTCK. Chính vì lẽ đó đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đã tham gia dự báo mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô và TTCK bằng việc sử dụng những mô hình nghiên cứu khác nhau.
Mukhejee và Naka (1998) vận dụng phương pháp của Johansen trong mô hình hiệu chỉnh sai số vector VECM và đã giải thích rằng TTCK Nhật Bản có mối quan hệ dài hạn với 6 biến số kinh tế vĩ mô là tỉ giá, cung tiền, tỉ lệ lạm phát, sản lượng sản xuất, lãi suất trái phiếu Chính phủ dài hạn và lãi suất cho vay không kỳ hạn trong ngắn hạn. Tiết kiệm tăng làm tăng vốn đầu tư vào TTCK, điều này cũng đã được chứng minh trong nghiên cứu của Garcia và Liu (1999), các ông đã nghiên cứu các nhân tố quyết định đến sự phát triển của TTCK, bằng việc sử dụng dữ liệu gộp từ 15 nước bao gồm 7 nước Châu Mỹ La Tinh, 6 nước khu vực Tây Á và 2 nước Mỹ và Nhật Bản, với khoảng thời gian nghiên cứu từ năm 1980 đến 1995, bài viết xem xét các yếu tố vĩ mô quyết định đến sự phát triển TTCK, và kết luận rằng bên cạnh thu nhập thực tế và tính thanh khoản của TTCK, thì tỉ lệ tiết kiệm là yếu tố quyết định quan trọng, tác động cùng chiều đến giá trị vốn hóa của TTCK. Kwon và Shin (2000) sử dụng mô hình VECM để kiểm nghiệm tại thị trường Hàn Quốc và kết luận rằng TTCK Hàn Quốc có quan hệ đồng liên kết với chỉ số sản phẩm quốc dân, tỉ giá, cán cân thương mại và cung tiền, điều đó có nghĩa là những thay đổi của các nhân tố vĩ mô trên sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá chứng khoán Hàn Quốc trong dài hạn. 123doc 6 Gjerde và Saettem (2000), Achsani và Strohe (2003) đã tiến hành nghiên cứu ở những khu vực thị trường nhỏ như Na Uy, Indonesia và cũng kết luận rằng biến động TTCK phản ứng ngược với những thay đổi về lãi suất, phản ứng thuận với sự thay đổi của GDP, cung tiền và tỷ giá hối đoái.
Maysami và các cộng sự (2004) đã giải thích mối quan hệ giữa các biến vĩ mô và chỉ số giá chứng khoán thị trường Singapore (SES All-S Equities Finance Index, SES All-S Equities Property Index and SES All-S Equities Hotel Index) bằng việc sử dụng mô hình vec tơ hiệu chỉnh sai số (VECM) của Jonhansen và Juselius (1990) và kết luận rằng TTCK Singapore có mối quan hệ với các biến lãi suất, lạm phát, tỉ giá, sản lượng công nghiệp và cung tiền. Christopher Gan và các cộng sự (2006) đã kiểm định tác động của các biến như lạm phát (CPI), tỷ giá hối đoái (EX) lãi suất ngắn hạn (SR), lãi suất dài hạn (LR), tăng trưởng kinh tế (GDP), Cung tiền (M1) đến chỉ số giá chứng khoán trên TTCK New Zealand (NZSE40). Kết quả cho thấy có mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô như lãi suất ngắn hạn, cung tiền và tăng trưởng kinh tế với chỉ số giá chứng khoán NZSE40 giai đoạn 1990-2003. Coleman và tettey (2008) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô lên TTCK Ghana (GSE) và kết luận rằng lãi suất cho vay từ tiền gửi ngân hàng và tỉ lệ lạm phát có ảnh hưởng đến TTCK của Ghana.
Yartey (2008) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định đến sự phát triển của TTCK các nền kinh tế mới nổi, sau đó giúp chúng ta hiểu hơn đối với trường hợp cụ thể ở Nam Phi. Bài nghiên cứu đã kiểm tra thực nghiệm các nhân tố vĩ mô và các yếu tố về thể chế chính trị bao gồm thu nhập, tổng tiết kiệm nội địa, tổng đầu tư nội địa, tính thanh khoản của thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô, vốn tư nhân, rủi ro chính trị, pháp luật, tham nhũng và tính dân chủ quyết định đến TTCK được đo lường bằng mức vốn hóa thị trường. Các tác giả đã sử dụng dữ liệu dạng bảng của 42 quốc gia mới nổi với thời gian quan sát từ năm 1990 đến 2004, và đã có những phát hiện có ý nghĩa quan trọng về chính sách đối với các nước thị trường mới nổi. 123doc 7 Đó là tăng trưởng kinh tế đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển TTCK, ở giai đoạn đầu thành lập, sự phát triển của khu vực ngân hàng là quan trọng đối với sự phát triển của TTCK các nước mới nổi, TTCK bổ sung chứ không phải là thay thế cho ngành ngân hàng, các dịch vụ hỗ trợ từ hệ thống ngân hàng đóng góp đáng kể cho sự phát triển của TTCK, tuy nhiên, ở giai đoạn sau, khi thị trường đã phát triển thì thị trường lại có xu hướng cạnh tranh với khu vực ngân hàng; Đầu tư trong nước là một yếu tố quyết định quan trọng đến sự phát triển TTCK các nước mới nổi, vì thế, để thúc đẩy sự phát triển TTCK có thể khuyến khích đầu tư bằng các chính sách thích hợp; Sự ảnh hưởng bởi tiết kiệm nội địa đến TTCK không có ý nghĩa thống kê; Tính thanh khoản TTCK có ảnh hưởng tích cực phát triển TTCK, cải thiện tính thanh khoản của TTCK tại các thị trường mới nổi có thể là một phương pháp tiếp cận của việc thúc đẩy TTCK phát triển.
Cuối cùng, chất lượng của tổ chức là những yếu tố quyết định quan trọng của phát triển TTCK, giảm bớt rủi ro chính trị, một yếu tố quan trọng trong quyết định đầu tư, bên cạnh đó, chất lượng pháp luật và trật tự dân chủ là những yếu tố quan trọng cho sự phát triển TTCK của những nền kinh tế mới nổi. Mohammad và các cộng sự (2009) nghiên cứu tác động các yếu tố vĩ mô đến TTCK Karachi. Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng số liệu hằng quý để quan sát các yếu tố vĩ mô bao gồm tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại hối, chỉ số sản xuất công nghiệp, chi tiêu tổng tài sản cố định, cung tiền M2 và chỉ số giá bán buôn tác động đến chỉ số giá chứng khoán Karachi (Karachi Stock Exchange-KSE) giai đoạn năm 1986-2007. Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số sản xuất công nghiệp, dự trữ ngoại hối, chỉ số giá bán buôn có tác động cùng chiều lên chỉ số giá chứng khoán trong khi đó, tỷ giá hối đoái, chỉ tiêu tổng tài sản cố định, lãi suất và cung tiền M2 có tác động nghịch chiều.
Tất cả các hệ số tương quan đều có ý nghĩa thống kê ngoại trừ biến chi tiêu tổng tài sản cố định. Okpara (2010), đã nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến lợi nhuận của TTCK ở Nigeria. Tác giả đã sử dụng phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị, đồng liên kết và mô hình vec tơ hiệu chỉnh sai số để xem xét mối quan hệ trong 123doc 8 ngắn hạn và dài hạn giữa các biến lãi suất trái phiếu Chính phủ, tỉ lệ lãi suất thực (đã loại trừ lạm phát), lãi suất chiết khấu đến lợi nhuận của TTCK (được tính bằng công thức log(Pt/Pt-1)). Với chuỗi thời gian theo tháng từ tháng 1 năm 1985 đến tháng 12 năm 2006, bài nghiên cứu đã có kết luận, khi lãi suất chiếu khấu tăng lên thì lãi suất thực và lãi suất trái phiếu Chính phủ cũng tăng và chính sách tiền tệ là một yếu tố quyết định quan trọng đến lợi nhuận của TTCK dài hạn ở Nigeria.
Nói cách khác, hành vi lâu dài của lợi nhuận TTCK ở Nigeria phần lớn chịu ảnh hưởng bởi hai biến, thứ nhất, lãi suất trái phiếu Chính phủ cao sẽ làm giảm lợi nhuận của TTCK, thứ hai lãi suất hiện tại và một độ trễ của lãi suất tác động cùng chiều và quan trọng đến biến động trong lợi nhuận của TTCK. Hệ số của phần dư điều chỉnh sai số bằng 32% phản ánh độ lệch từ cân bằng dài hạn giữa lợi nhuận của cổ phiếu và lãi suất trái phiếu Chính phủ, hay nói cách khác tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa lãi suất trái phiếu Chính phủ và lợi nhuận của TTCK. Cơ chế điều chỉnh về trạng thái cân bằng dài hạn trong mối quan hệ giữa lợi nhuận chứng khoán và lãi suất trái phiếu Chính phủ là cơ chế điều chỉnh định kỳ hoặc bởi sự tương tác của thị trường hoặc bởi sự can thiệp của Chính phủ. Một thông tin bổ sung trong sự biến động của các biến được rút ra từ mô hình cho thấy sự biến động về lợi nhuận chủ yếu là do những cú sốc về lãi suất.
Kết quả này cho thấy những cải tiến mới lãi suất có thể là một yếu tố dự báo tốt hơn về lợi nhuận của TTCK ở Nigeria. Mu-lan Wang và các cộng sự (2010) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa giá dầu, tỉ giá và TTCK thế giới. Bài nghiên cứu đã giải thích mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa các biến giá dầu, giá vàng, tỉ giá và chỉ số chứng khoán các nước Mỹ, Đức, Nhật Bản, Thái Lan và Trung Quốc từ giữa năm 2006 đến tháng 2 năm 2009. Phương pháp kiểm nghiệm đơn vị được thực hiện để kiểm tra tính dừng, phương pháp đồng tích hợp (Johansen) được sử dụng để kiểm tra liệu có mối quan hệ dài hạn giữa các biến hay không?