CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MẠNG XÃ HỘI 1. Tổng quan về mạng xã hội 1. Khái niệm về mạng xã hội “Mạng xã hội” là cụm từ được sử dụng thường xuyên và trở nên quen thuộc với hầu hết những người sử dụng Internet tại Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều cuộc tranh cãi về định nghĩa cụ thể của mạng xã hội cũng như những tính năng và tác động mà nó mang lại.
Về cơ bản, ta có thể hiểu mạng xã hội giống như một trang web mở với nhiều ứng dụng khác nhau giúp kết nối những người dùng lại với nhau. Mạng xã hội khác với trang web thông thường ở cách truyền tải thông tin và tích hợp ứng dụng. Không những vậy còn tạo ra các ứng dụng mở, các công cụ tương tác để mọi người tự tương tác và tạo ra dòng tin rồi cùng lan truyền dòng tin đó. Lịch sử hình thành và phát triển Mạng xã hội xuất hiện lần đầu tiên năm 1995 với sự ra đời của trang Classmate với mục đích kết nối bạn học, tiếp theo là sự xuất hiện của SixDegrees vào năm 1997 với mục đích giao lưu kết bạn dựa theo sở thích.
Năm 2002, Friendster trở thành một trào lưu mới tại Hoa Kỳ với hàng triệu thành viên ghi danh. Tuy nhiên sự phát triển quá nhanh này cũng là con dao hai lưỡi: Server của Friendster thường bị quá tải mỗi ngày, gây bất bình cho rất nhiều thành viên. Năm 2004, MySpace ra đời với các tính năng như phim ảnh (embedded video) và nhanh chóng thu hút hàng chục ngàn thành viên mới mỗi ngày, các thành viên cũ của Friendster cũng lần lượt chuyển qua MySpace và trong vòng một năm, MySpace trở thành mạng xã hội đầu tiên có nhiều lượt xem hơn cả Google và được tập đoàn News Corporation mua lại với giá 580 triệu USD. Năm 2006, sự ra đời của Facebook đánh dấu bước ngoặt mới cho hệ thống mạng xã hội trực tuyến với nền tảng lập trình “Facebook Platform” cho phép thành viên tạo ra những công cụ (apps) mới cho cá nhân mình cũng như các thành viên khác dùng.
12 Facebook Platform nhanh chóng gặt hái được thành công vượt bậc, mang lại hàng trăm tính năng nổi bật cho Facebook. Mục tiêu của mạng xã hội - Tạo ra một hệ thống trên nền Internet cho phép người dùng giao lưu và chia sẻ thông tin một cách có hiệu quả, vượt ra ngoài những giới hạn về địa lý và thời gian. - Xây dựng lên một mẫu định danh trực tuyến nhằm phục vụ những yêu cầu công cộng chung và những giá trị của cộng đồng. - Nâng cao vai trò của mỗi công dân trong việc tạo lập quan hệ và tự tổ chức xoay quanh những mối quan tâm chung trong những cộng đồng thúc đẩy sự liên kết các tổ chức xã hội.
Đặc trưng của mạng xã hội Mạng xã hội ảo có hai đặc trưng cơ bản: - Có sự tham gia trực tiếp của nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức. - Là một website mở, nội dung của website được xây dựng hoàn toàn bởi các thành viên tham gia. Vai trò và lợi ích của Mạng xã hội Mạng đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần tất yếu mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viên khắp thế giới. Các dịch vụ này có nhiều phương cách để các thành viên tìm kiếm bạn bè, đối tác: dựa theo group (ví dụ tên trường hoặc tên thành phố), dựa trện thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc screen name), hoặc dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán… Ngoài ra, bởi khả năng lan truyền thông tin nhanh chóng, mạng xã hội còn là phương tiện để các doanh nghiệp thực hiện chiến lược quảng cáo, marketing nhằm tăng độ nhận biết cho thương hiệu và sản phẩm của mình.
Một số mạng xã hội phổ biến 1. Mạng xã hội: Facebook, Zing me, Go. Chia sẻ video: youtube, clip. Chia sẻ hình ảnh: Flickr, Picasa 13 4.
Blog: Opera, Blog +, Blogspot, wordpress, 5. Kiến thức: wiki 6. Công việc: linkedin 7. Cửa hàng: vatgia, chodientu.
Trò chơi: Zing, VTC, trochoiviet. Chia sẻ âm nhạc: nhac.vn, Độ, yeucahat, Nhacso 10. Trò chuyện xã hội: Zing chat, Yola. Những loại hình khác 1.
Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của mạng xã hội đến sinh viên 1. Thuyết nhu cầu của Maslow Abraham Maslow (1908 – 1970) là nhà tâm lý học, được xem như một trong những người tiên phong trong trường phái tâm lý học nhân văn (Humanistic psychology), trường phái này được xem là thế lực thứ ba (The Third Force) khi thế giới lúc ấy đang biết đến hai trường phái tâm lý chính: Phân tâm học (Psychoanalysis) và Chủ nghĩa hành vi (Behaviorism). Vào năm 1954, Abraham Maslow đã đưa ra quan điểm về nhu cầu của con người và nhu cầu này được sắp xếp theo các thứ bậc khác nhau. Học thuyết của ông được dựa trên những con người khỏe mạnh, sáng tạo, những người sử dụng tất cả tài năng, tiềm năng và năng lực trong công việc.
Vào thời điểm đó, phương pháp này khác biệt với các công trình nghiên cứu tâm lý con người khác được dựa trên việc quan sát con người bị chi phối bởi các phiền muộn là chủ yếu. Maslow cho rằng con người muốn và luôn đấu tranh để thỏa mãn những nhu cầu khác nhau. Xuất phát từ việc những mức nhu cầu bậc thấp bao giờ cũng cấp thiết và quan trọng hơn, nên chúng sẽ đóng vai trò như nguồn và định hướng của một mục tiêu cá nhân nếu những nhu cầu này không được thỏa mãn. Sau khi nhưng nhu cầu bậc thấp được thỏa mãn, những nhu cầu cao hơn sẽ là động cơ hành động.
Những nhu cầu chưa được thỏa mãn ở bậc dưới sẽ lấn át những nhu cầu chưa được thỏa mãn ở bậc cao hơn, và chúng cần được thỏa mãn trước khi một cá nhân tiến lên các 14 bậc cao hơn của tháp nhu cầu. Ban đầu, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc: - Nhu cầu cơ bản (Basic needs) - Nhu cầu về an toàn (Safety needs) - Nhu cầu về xã hội (Social needs) - Nhu cầu về được tôn trọng (Esteem needs) - Nhu cầu được thể hiện mình (Self-actualizing needs) Sau hai lần bổ sung năm 1970 và 1990, sự phân cấp này đã được Maslow hiệu chỉnh thành 8 bậc như sau: - Nhu cầu sinh lí (cơ bản) (basic needs) - Nhu cầu về về an toàn (safety needs) - Nhu cầu về xã hội (social needs) - Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs) - Nhu cầu về nhận thức (cognitive needs) - Nhu cầu về thẩm mỹ (aesthetic needs) - Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs) - Sự siêu nghiệm (transcendence) Trong môi trường xã hội thay đổi và ngày được nâng cao như hiện nay thì nhu cầu về cái tôi cá nhân và tự thể hiện bản thân càng được coi trọng và đề cao. Trong đó, Maslow nhận định về nhu cầu xã hội như sau: “Nhu cầu xã hội còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương. Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm,.
và sợ bị cô độc, bị coi thường”. Nội dung của nhu cầu này bao gồm các vấn đề tâm lí như: được dư luận xã 15 hội thừa nhận, sự gần gũi, yêu thương, ủng hộ va mong muốn được hòa nhập với cộng đồng, tình bạn, tình yêu, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này. Chính vì thế mà các trang mạng xã hội ra đời, và Facebook đã đáp ứng đầy đủ những nhu cầu thực tại này nên được xã hội và đặc biệt là giới trẻ quan tâm đến. Cũng có thể là do nhu cầu của xã hội, nhu cầu của bản thân hay bản thân của họ muốn chứng tỏ, khẳng định mình bằng các lời lẽ, hình ảnh trên trang mạng xã hội Facebook.
Tâm lý đám đông của Gustave Le Bon Gustave Le Bon (1841 – 1931) là nhà tâm lý học xã hội nổi tiếng người Pháp. Tâm lý học đám đông của Gustave Le Bon được viết năm 1895, dịch giả: Nguyễn Xuân Khách, Sách xuất bản lần đầu năm 2006. Tái bản lần thứ 3 năm 2009, có bổ sung phần Tâm lý đám đông và phân tích cái tôi của S. Freud – Phạm Nguyên Trường dịch.
Theo Gustave Le Bon: “Trong thời hiện đại xuất hiện một yếu tố quan trọng hơn cả đó là đám đông, sức mạnh của đám đông, nó làm lung lay cả bản chất di truyền của con người, chồng lên đó và đôi khi khác biệt sâu sắc với bản chất ấy, chi phối cả những chuyển động lịch sử lớn lẫn hành vi của từng cá nhân. Thời đại mà chúng ta đang bước vào sẽ thật sự là thời đại của những đám đông.” Ông chỉ ra rằng: đám đông bao giờ cũng vô thức, dù là bất cứ đám đông nào, dù đó là đám đông cao sang và bác học nhất, như đám đông nghị viện chẳng hạn; dù những cá nhân hợp thành nó thế nào, là nông dân, người bình thường, người vô học, hay là nhà trí thức, nhà khoa học, nhà chính trị tinh tường… khi đã tham gia đám đông, chuyển thành đám đông, lập tức tính cách hay trí tuệ của từng cá nhân trong đó hoàn toàn biến đổi, họ hành động hoàn toàn theo những qui luật khác. Từ thuyết tâm lý đám đông của Gustave Le Bon, ta có thể thấy rằng tâm lý đám đông có ảnh hưởng lớn đến mỗi cá nhân. Mỗi cá nhân luôn muốn tham gia, gia nhập vào đám đông để giao lưu, trao đổi, kết bạn… với những thành viên khác nhằm mở rộng các mối quan hệ, nâng cao kỹ năng, phát triển bản thân, thỏa mãn đam mê, sở thích.
Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện đại, thời gian chúng ta dành cho các hoạt động bên ngoài, hoạt động tập thể ngày càng hạn chế. Mạng xã hội ra đời phần nào 16 đáp ứng được nhu cầu hiện nay, bởi vì nó không giới hạn về thời gian, không gian, khả năng lan truyền và cập nhật thông tin một cách nhanh chóng, thuận tiện cho tất cả mọi người ngay cả những người bận rộn. Điều này lý giải được lý do tại sao khi mạng xã hội ra đời đã đáp ứng nhu cầu giao lưu, kết bạn, tạo ra một cộng đồng trong xã hội ảo đối với người dùng. Điều này đã tác động đến hành vi, suy nghĩ của người sử dụng bởi lẽ mạng xã hội là nơi tập trung của những đám đông.