Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về cây ngải cứu 1.1 Nguồn gốc và phân loại Nguồn gốc Ngai cứu (Artemisia vulgris L.) là cây thân thảo, hoang dại mọc tự nhiên có nguồn gốc từ vùng ôn đới 4m Châu Âu hoặc Chau A, du nhập vào Alaska, Trung Mỹ, Nam Phi. Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu cho rằng ngải cứu có nguồn gốc từ Bắc Mỹ (Fogg, 1975). Hiện nay, cây được trồng và trở nên hoang dại hóa ở những vùng có khí hậu nhiệt đới Lào, Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc. Ở Việt Nam, ngải cứu được trồng từ lâu đời Nam đến Bắc.
Ở độ cao từ khoảng 800m trở lên, cây ngải cứu mọc dai tự nhiên rất nhiều ở tính Lào Cai, Lai Châu, Yên Bái, Cao Bằng, Lạng Sơn (Phạm Hoàng Hộ, 2000). Phân loại Ngai cứu tên khoa học là (Artemisia vulgris L.), một loài thực vật giới (Plantae) lớp (Magnoliidae), có bộ (Asterales). Chi Artemisia có khoảng 300 loài phân bố ở vùng ôn đới. là một loài có số lượng lớn nhất trong các họ cúc (4/eraceae).
Có khoảng trên 800 giống phố biến trên toàn thế giới. Nước ta có khoảng 11 loài thuộc chi Artemisia gồm: ngải dang, thanh hao, ngải lá kim, ngải đen, ngai cứu rừng, ngải hoa vàng, ngải thơm, ngai chân vit, ngải giun, ngải cứu, ngải lông lợn (Võ Văn Chi, 2004).2 Đặc điểm thực vật học của cây ngải cứu Ngai cứu là cây thân thảo, sống lâu năm, ưa âm, có thé hơi chịu bóng. Cây mọc thành từng khom, có thân ngầm, cây sinh trưởng mạnh trong mùa xuân — hè (Barney và Ditommaso, 2003).1 Rễ Ngai cứu có bộ rễ cọc, kiêu rễ hình trụ. Rễ có phát triển tốt trong điều kiện đất tơi xốp, đủ âm và thoáng khí (Hoàng Thị Thanh Hà, 2010).
Rễ đóng vai trò quan trọng như một máy bơm trong hút nước và chất dinh đưỡng cung cấp cho cây trồng sinh trưởng phát triển. Ngoài ra, khi hệ thống bộ rễ tốt giúp cây đứng vững không bị đồ ngã.2 Than Ngai cứu có chiều cao thân từ 0,4 — 1,5 m là cây thân thảo sống lâu năm, mọc thắng, phân nhánh rất mạnh. Có thân ngầm đường kính thân từ 0,25 đến 1.5 m, thân có màu nâu hoặc nâu xám (Nguyễn Thị Hồng Thảo, 2015). phần thân phía trên có nhiều lông tơ, không có phiến, toàn bộ và hình mác.3 Lá Lá ngải cứu mọc so le, phiến lá rỗng xẻ 5 thùy hình mũi mác hẹp, đầu nhọn, không có cuống (nhưng lá phía dưới thường có cuống), xẻ thùy lông chim, màu lá ở hai mặt rất khác nhau: mặt trên nhẫn màu luc sam, mặt dưới màu trắng tro do có rất nhiều lông tơ nhỏ, trắng (Đỗ Tắt Lợi, 2004).
Những lá ở ngọn có hoa không chẻ. Lá trưởng thành có màu xanh đậm, dài 1 — 10 cm, rộng 3 — 7,5 cm. Khi vò lá ngai cứu nát có mùi thơm hắc.4 Hoa Hoa mọc ở ngọn thân và đầu cành thành chùm kép, mau vàng lục nhạt, đầu mọc chúc xuống, hình trứng, mang hoa cái hoặc hoa lưỡng tính (Granock và Jones, 1986). Hoa nở trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 9.5 Hạt Quả bế nhỏ, không có tim lông.
Hat màu nâu, dang oval dài có kích thước từ 1 — 2 mm có một vài lông ở đỉnh (Đỗ Huy Bich va ctv, 2004).1 Cây ngải cứu (Artemisia vulgris L.) A: thân; B: lá; C: bông; D: hoa đầu; E: hoa; E: hạt (Holm và ctv, 1997) 1.3 Nhu cầu sinh thái của cây ngải cứu 1.1 Nhiệt độ Ngải cứu có nguồn gốc ôn đới chịu nang nong, chiu lanh tốt, nhiệt độ từ 18 — 22°C (Nguyễn Thị Hồng Thao, 2015).2 Ánh sáng Ngải cứu sống được trên hai vùng ánh sáng là nắng trực tiếp cả ngày hoặc râm mát một phần. Thời kì sinh trưởng và phát triển của cây ngải cứu khoảng 80 ngày.3 Đất Thích hợp với các loại đất và thích đất thoát nước tốt. Có thể phát triển trong điều kiện bong ram bán phần hoặc không có bóng ram. Dat có độ pH dé ngải cứu sinh trưởng và phát triển tốt pH = 5 — 7.4 Lượng mưa và độ 4m Ngải cứu chịu hạn tốt, không chịu ngập lâu thích hợp với lượng mưa trung bình 600 — 1000 mm/năm.
Độ am thích hợp ở các kỳ sinh trưởng của ngải cứu 65 — 75%, am độ không khí 75 — 85% (Bùi Thị Nga, 2015).4 Công dụng và giá trị sử dụng của cây ngải cứu 1.1 Tác dụng của cây ngải cứu Trong đông y, ngải cứu có vị đăng, cay, tính âm, can, thận, giúp cam máu, giảm đau, dùng được các bộ phận của cây, vừa có thê dùng ở dạng tươi, vừa dùng được ở dạng khô. Ngoài ra ngải cứu còn có thé đuổi côn trùng (Đỗ Tat Lợi, 2004). Theo Đỗ Huy Bích và ctv (2004), phần trên mặt đất của ngải cứu có 13 acid amin tự đo và 21 acid amin liên kết. Trên toàn bộ phận của cây đều có thể dùng làm thuốc hoặc sản xuất tỉnh dầu 1.2 Giá trị sử dụng Giúp chống viêm: Artemisinin, một hợp chất thực vật được tìm thấy trong cây ngải cứu có tác dụng chống lại các chứng viêm trong cơ thé.
Hoạt chat này được cho là có thể ức chế cytokyne. Tác dụng chong nam: Tinh dâu chung cat từ ngai cứu cũng góp phân ức chê sự phát triên của hai loại nam Candida albicans va Saccharomyces cerevisiae var. Chữa cảm cúm, ho, dau hong: Day là bài thuốc dân gian sử dụng ngải cứu dé chữa chứng cảm mạo, ho, đau họng thông thường. Tuy nhiên phải kết hợp với nhiều loại thảo mộc khác dé mang lại hiệu quả.
Chống oxi hóa: Trong ngải cứu có chứa chamazulene, hoạt chất như một chất chông oxi hóa và tập trung nhiêu ở lá, thân trước khi cây ngải cứu ra hoa. Sử dụng làm món ăn: Từ rất lâu ngải cứu đã sử dụng như một loại rau, một cây thuốc quý trồng sau vườn dé giải nhiệt.3 Lưu ý khi sử dụng ngải cứu Theo Viện Dược liệu (2006), mặc dù ngải cứu có tác dụng tốt cho sức khỏe, chỉ sử dụng 3 — 5 ngọn môi lân va chỉ nên ăn 3 lân/tuân. Ngoài ra, còn lưu ý không nên sử dụng chung với các loại thuôc chông trâm cảm và chông loạn thân, chông dông máu, kháng nâm và kháng khuân. Không nên sử dụng ngải cứu thường xuyên trong 4 tuần.2 Vai trò của magie và lưu huỳnh đối với cây trồng 1.1 Tác dụng của magie (Mg) đối với cây trồng Magie (Mg?') là một trong những chất dinh dưỡng thiết yếu cho thực vật, là thành phan quan trọng của chlorophyll (điệp lục tố) và đóng vai trò quan trọng trong việc trao đối chất, quang hợp và tổng hợp gluxit, protein, lipit trong cây, giúp bộ lá của cây xanh dày, tăng cường quang hợp, sinh trưởng mạnh.
Magie được cây trồng hap thụ dưới dang ion Mg”", di tới các rễ cây qua việc di chuyền theo trọng lượng và khuếch tám. Lượng Mg do các cây trồng hấp thụ được thường ít hơn lượng Ca hoặc K. Trong các phân tử chlorophyll, Magie chiếm khoảng 10% tong Mg?” ở lá và hầu hết Magie đều nằm trong nhựa cây và tế bào chat. Mg”' là một chất dinh dưỡng trung lượng góp phần điều hòa pH thích hợp với từng bộ phận trong tế bào và sinh lý của cây, thực hiện một số chức năng điều chỉnh, hóa sinh như: Hình thành chlorophyll, sản xuất enzym, chuyên hóa hydrat cacbon va vận chuyền năng lượng, tổng hợp protein (Cakmak và Yazici, 2008).
Cấu trúc chính của diệp lục, thành phần cau trúc của ti thé, sự ôn định của ti thé trong hình dạng là điều cần thiết cho quá trình tổng hợp protein. Và cây trồng sẽ không thể tạo ra được chất diệp lục trong tế bào của chúng nếu không có Magie. Mg?" đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất enzym phosphoryl, tong hợp glycine. Enzym sẽ không thé tạo ra được nếu thiếu di chỉ là một lượng nhỏ Magie.
Ngoài ra, Mg”* còn hoạt động giống như một chất xúc tác trong các phản ứng oxy hóa khử bên trong các mô thực vật. Nó hỗ trợ hoạt động của sắt và giúp cây trồng chống lại tác động có hại của quá trình thông khí kém, làm tăng khả năng chống lại khô han và nắm bệnh của thực vật (Cakmak và Yazici, 2008). Bồ sung Magie hợp lý, đầy đủ giúp cây cho năng suất cao.2 Tác dụng của lưu huỳnh (S) đối với cây trồng Lưu huỳnh là thành phần của nhiều loại axit amin quan trọng trong cây. Lưu huỳnh trong đất còn có dạng anhydrit (CaSO¿) và gypsum (CaSO4.2H20) phổ biến ở dạng FeS> (pirit) và FeS là dang sulfit của đất.
Lưu huỳnh trong dat còn có dang liên kết hữu cơ, đặc biệt ở đất giàu mùn. Tông hàm lượng luu huỳnh trong các cây trồng khác nhau, khoảng 0,2 đến 0,5% tong lượng chất khô. Lưu huỳnh tham gia trong các quá trình biến đổi chất của cây như: Quang hợp, hình thành đường, tinh bột, amino axit, và protein. Lưu huỳnh được hấp thụ cơ bản ở dang anion sunfat (SO.
Lưu huỳnh có thé xâm nhập vào lá cây từ không khí ở dạng khí sunfur dioxit (SO2). Lưu huỳnh là một phan của tat cả các tế bào và tham gia cau tạo thành 2 trong 21 amino axit dé tông hợp protein (Lê Minh Giang, 2020). Các chức năng khác của luu huỳnh trong cây như: Cần thiết cho hoạt động của diệp lục (clorophyl) đề hap thu năng lượng ánh sáng mặc dù không là bộ phận cau thành clorophyl; trong quá trình quang hợp S cần thiết dé hap thu CO> dé tạo thành đường có sự hoạt động của coenzim chứa S. Đường là sản phẩm tông hợp đầu tiên của quá trình quang hợp nhưng quá trình hình thành tinh bột trong cây và tham gia quá trình hình thành tinh dầu.
S là nguyên tố tham gia cấu trúc của các coenzim và các vitamin B và H. Vitamin H (biotin) cùng với tổ hợp các enzim dé hình thành 3 coenzim chứa S. Các coenzyme này rat cần thiết dé tổng hợp các axit béo trong cây (Lê Minh Giang, 2020).3 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của Magie đến một số cây dược liệu Nguyễn Đình Thi và Phan Văn Huân (2018) đã thực hiên nghiên cứu ảnh hưởng của MgSO, đến sinh trưởng phát triển và năng suất một số giống lạc vụ xuân tại Hà Tĩnh cho kết quả: Bón MgSO4 đã có tác dụng tăng các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển thân lá, số cành và chiều dài cành, tích lũy chất khô, số lượng và khối lượng nốt san, các yếu tố § cấu thành năng suất và năng suất của cả 3 giống lạc thí nghiệm L14, L29 và TK10. Trong điều kiện sản xuất lạc vụ xuân tại Hà Tĩnh, bón MgSO4 với liều lượng 60 kg/ha và 90 kg/ha đã đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Giống L14 đạt năng suất 3,589 — 4,220 tan/ha, chỉ số VCR đạt 41,4 — 58,4.