ĐẶT VẤN ĐỀ Cây đậu tương (Glycine max (L). Merrill) là cây công nghiệp ngắn ngày, có tác dụng rất nhiều mặt là cây có giá trị kinh tế cao, chiếm vị trí quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp ở nước ta theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá và phát triển nông nghiệp bền vững. Ngoài ra đậu tương còn là cây có khả năng cố định đạm, làm tăng độ phì của đất, cải tạo đất rất tốt. Sản phẩm của nó là nguồn cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị.
Vì vậy, từ lâu việc trồng đậu tương đã được quan tâm và phát triển mạnh ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam (Đường Hồng Dật, 2012). Hạt đậu tương có chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng quan trọng như: protein (40 - 50%), lipit (12 - 24%), hydratcacbon và các chất khoáng, trong đó protein và lipit là 2 thành phần quan trọng nhất. Protein đậu tương có giá trị không những về hàm lượng lớn mà còn có đầy đủ và cân đối các loại axit amin cần thiết, đặc biệt là giàu Lizin và Triptophan, đây là 2 loại axit amin không thay thế và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của cơ thể con người và gia súc. Ngoài ra trong hạt đậu tương còn có nhiều loại vitamin như: vitamin PP, A, C, E, D, K, đặc biệt là vitamin B1 và B2 (Phạm Văn Thiều, 2009).
Trong những năm gần đây ngành sản xuất đậu tương ở nước ta bị giảm về cả diện tích và sản lượng, vì thế đã không đáp ứng được nhu cầu của xã hội, nhiều năm qua nước ta phải nhập khẩu đậu tương với số lượng lớn, tính đến tháng 11 năm 2017 nước ta nhập khẩu 918,72 nghìn tấn, với giá trị 391,93 triệu USD (Tổng cục Thống kê, 2017). Tuy nhiên, năng suất đậu tương giữa các vùng, các quốc gia và lãnh thổ còn có sự chênh lệch khá lớn. Một trong những nguyên nhân làm hạn chế năng suất đậu tương ở nhiều quốc gia là do chưa áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chưa khai thác, tận dụng hết tiềm năng để tăng năng suất và sản lượng 1 đậu tương. Do vậy, phân bón là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất của cây trồng.
Vì vậy cần có cơ sở cho việc bón phân hợp lý để cây đạt hiệu quả năng suất cao nhất. Ngoài việc xác định nhu cầu dinh dưỡng của cây thì cần quan tâm đến các yếu tố như: khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất, xác định nhu cầu dinh dưỡng mà cây cần từ đó sẽ có những phương pháp bón thích hợp. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nêu trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của liều lượng kali và lân bón đến sinh trưởng và năng suất của giống đậu tương VNUAĐ2 trong điều kiện vụ xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội” góp phần nâng cao năng suất, nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập cho các hộ nông dân. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 1.
Mục đích Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng kali và lân bón đến sinh trưởng và năng suất của giống đậu tương VNUAĐ2 trong điều kiện vụ xuân năm 2021 tại Gia Lâm- Hà Nội, từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình sản xuất đậu tương cho năng suất cao trong vụ xuân. Yêu cầu Đánh giá được ảnh hưởng của liều lượng kali và lân bón đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của giống đậu tương VNUAĐ2. Đánh giá được ảnh hưởng của liều lượng kali và lân bón đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống đậu tương VNUAĐ2. Đánh giá được ảnh hưởng của liều lượng kali và lân bón đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống đậu tương VNUAĐ2.
2 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT ĐẬU TƯƠNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Cây đậu tương là một trong tám cây lấy dầu quan trọng nhất trên thế giới gồm: Lạc, đậu tương, bông, hướng dương, cải dầu, lanh, dừa và cọ, đồng thời cũng là cây trồng đứng thứ tư trong các cây làm lương thực, thực phẩm (sau lúa mỳ, lúa nước và ngô). Chính vì vậy đậu tương được trồng phổ biến ở hầu khắp các nước trên thế giới, tập trung nhiều nhất ở các nước châu Mỹ (chiếm tới 73,0%), sau đó là các nước thuộc khu vực châu Á với 23,15% (Nguyễn Thế Côn, 2004).
Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới giai đoạn năm 1990 – 2019 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 1990 57,21 1,90 108,46 2000 74,31 2,17 161,31 2010 102,77 2,58 265,09 2011 103,76 2,52 261,60 2012 105,37 2,29 241,34 2013 111,11 2,50 277,68 2014 117,73 2,60 306,30 2015 120,90 2,67 323,31 2016 122,00 2,75 335,90 2017 125,85 2,86 359,53 2018 124,02 2,78 344,64 2019 120,50 2,77 333,67 (Nguồn: FAOSTAT, 2021) Năm 1990 thế giới diện tích trồng được 57,21 triệu ha, thì đến năm 2000 sau 10 năm sau, diện tích trồng đã đạt 74,31 triệu ha tăng 1,3 lần. Năm 2010 3 diện tích trồng đậu tương là 102,77 triệu ha. Năm 2017 cả thế giới trồng được 125,85 triệu ha tăng 2,2 lần so với năm 1990, nhưng đến năm 2019 diện tích trồng lại giảm xuống 120,50 triệu ha. Năm 1990 năng suất đậu tương thế giới chỉ đạt 1,90 tấn/ha, đến năm 2000 là 2,17 tấn/ha tăng 14,21%.
Năm 2010 là năng suất đậu tương đạt 2,58 tấn/ha, đến năm 2019 là 2,77 tấn/ha tăng 45,79% so với năm 1960. Cùng với sự tăng lên về diện tích và năng suất thì sản lượng đậu tương của thế giới cũng được tăng lên nhanh chóng. Năm 1990 sản lượng đậu tương thế giới đạt 108,46 triệu tấn thì đến năm 2010 sản lượng đậu tương thế giới đạt 265,09 triệu tấn, tăng gấp 2,4 lần so với năm 1990. Năm 2017 sản lượng đậu tương thế giới đạt tới 359,53 triệu tấn, tăng gấp 3,3 lần so với năm 1990.
Do diện tích trồng và năng suất giảm nên sản lượng năm 2018 cũng giảm chỉ còn 344,64 triệu tấn và năm 2019 là 333,67 triệu tấn. Hiện nay trên thế giới có nhiều quốc gia trồng đậu tương như Mỹ, Brazil, Argentina, Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Nhật Bản, Thái Lan.2 nhận thấy, Mỹ là nước đứng đầu thế giới về diện tích và sản lượng đậu tương của toàn thế giới năm 2017 và 2018, nhưng đến năm 2019 diện tích và sản lượng của nước này lại giảm 16,20% so với năm 2017. Braxin có biến chuyển tăng rõ rệt về diện tích đậu tương, năm 2019 diện tích gieo trồng tăng 5,68%, nhưng sản lượng lại giảm 3,09% so với năm 2018. Argentina cũng không ngừng mở rộng diện tích là nước đứng đầu xuất khẩu bã đậu tương.
Argentina hiện đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu hạt đậu tương, đứng đầu về xuất khẩu cám bã đậu tương, dầu ăn và dầu diesel chiết xuất từ đậu tương (FAOSTAT, 2021). Tình sản xuất đậu tương của 4 nước đứng đầu trên thế giới Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Diện Năng Sản Diện Năng Sản Diện Năng Sản Tên nước tích suất lượng tích suất lượng tích suất lượng (triệu (tấn/ (triệu (triệu (tấn/ (triệu (triệu (tấn/ (triệu ha) ha) tấn) ha) ha) tấn) ha) ha) tấn) Mỹ 36,24 3,31 120,06 35,45 3,40 120,51 30,35 3,19 96,80 Brazil 33,96 3,38 114,73 34,78 3,39 117,91 35,89 3,18 114,27 Argentina 17,34 3,17 54,97 16,32 2,32 37,79 16,58 3,33 55,26 Trung Quốc 8,25 1,85 15,29 8,42 1,90 15,97 8,43 1,87 15,73 Nguồn: FAOSTAT, 2021 Trung Quốc là nước đứng thứ 4 trên thế giới về sản xuất đậu tương. Ở quốc gia này, đậu tương được trồng chủ yếu tại vùng Đông Bắc, nơi có nhiều mô hình trồng đậu tương năng suất cao. Năm 2017 năng suất đậu tương của Trung Quốc đạt 1,85 tấn/ha và sản lượng đạt 15,29 triệu tấn.
Năm 2019 sản lượng đậu tương tăng 15,73 triệu tấn. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam Cây đậu tương được trồng ở Việt Nam từ rất sớm, nhân dân ta đã chế biến đậu tương thành các loại sản phẩm quen thuộc như: Tương, đậu phụ, dầu ăn. Diện tích gieo trồng đậu tương ở nước ta đạt cao nhất vào năm 2010 và giảm dần theo từng năm (Bảng 2. Nếu như năm 2010, diện tích trồng đậu tương của nước ta còn đạt 197,8 nghìn ha, thì đến 2017 chỉ còn 68,5 nghìn ha, giảm 65,4% so với năm 2010.
Do đó, sản lượng đậu tương năm 2017 chỉ còn 101,7 nghìn tấn, giảm 65,9% so với năm 2010 (298,6 nghìn tấn). Như vậy, mặc dù năng suất trung bình đậu tương của nước ta là tương đối ổn định khoảng 15 tạ/ha nhưng chỉ bằng xấp xỉ 1/2 so với thế giới và tổng sản lượng đậu tương cả nước chỉ đáp ứng được 1/10 nhu cầu đậu tương ở trong nước. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta đã phải nhập khẩu một khối lượng đậu tương lớn trong 5 những năm qua. Năm 2014 chúng ta nhập khẩu 1,564 nghìn tấn, giá trị 913,2 triệu USD, sơ bộ đến tháng 8/2017 chúng ta đã nhập khẩu 918,72 nghìn tấn, giá trị 391,93 triệu USD, mục đích là để phục vụ cho ngành chế biến thức ăn chăn nuôi, một phần rất nhỏ trong số đó dùng để chế biến sản phẩm thức ăn hàng ngày như sữa, đậu phụ hoặc dầu ăn (Tổng cục Hải quan, 2018).
Tình hình sản xuất đậu tương của Việt Nam giai đoạn 2012- 2020 2020 Năm 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 (sơ bộ) Diện tích 119,2 117,2 109,4 100,8 99,60 68,40 53,30 49,40 41,60 (nghìn ha) Năng suất 1,45 1,44 1,43 1,45 1,61 1,49 1,52 1,56 1,57 (tấn/ha) Sản lượng 173,5 168,2 156,5 146,4 160,7 101,7 80,8 77,3 65,4 (nghìn tấn) Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2021 Năm 2012 diện tích trồng đậu tương của nước ta là 119,2 nghìn ha, giảm dần qua các năm. Đến năm 2020 diện tích giảm còn 41,60 nghìn ha, giảm 65,10% so với năm 2012. Năm 2012 năng suất bình quân cả nước đạt 1,45 tấn/ha, tăng liên tục qua các năm và đạt cao nhất vào năm 2016 là 1,61 tấn/ha, sau đó có xu hướng giảm nhẹ qua các năm, đến năm 2020 năng suất đậu tương nước ta đạt 1,57 tấn/ha. Do có sự giảm dần về diện tích và năng suất nên sản lượng đậu tương nước ta cũng có sự giảm dần qua các năm.
Năm 2012 tổng sản lượng đậu tương cả nước đạt 173,5 nghìn tấn. Đến năm 2016 giảm xuống 160,7 nghìn tấn và sản lượng đậu tương giảm nhiều nhất vào năm 2020 là 65,4 nghìn tấn. Theo Phạm Đồng Quảng & cs. (2005), hiện nay đậu tương nước ta 6 được trồng ở chủ yếu ở 27 tỉnh.