Mở đầu và Kết luận, luận văn được chia thành 3 chương. Chƣơng 1: Năng lực của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam Chƣơng 2: Dự báo ảnh hƣởng của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dƣơng và những vấn đề đặt ra đối với ngành công nghiệp sản xuất ô tô Việt Nam Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp phát triển ngành công nghiệp ô tô ở Việt Nam dƣới ảnh hƣởng của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dƣơng 6 Chƣơng 1: NĂNG LỰC CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM 1. Năng lực sản xuất và cung ứng 1. Sản xuất ô tô của các doanh nghiệp nước ngoài 1.
Sản lượng Các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư cho quy mô sản xuất ô tô lớn với tổng công suất thiết kế đạt 200.000 xe/năm nhưng thực tế công suất khai thác chỉ trên 30% so với công suất thiết kế.1 ta thấy các doanh nghiệp FDI có quy mô sản xuất và cung ứng đều tăng trưởng qua các năm, thừa sức đáp ứng nhu cầu ô tô trong nước và đặc biệt tốc độ gia tăng tuy nhiều biến động nhưng những năm gần đây càng nhanh, chỉ trong một năm (2010-2011) sản lượng tăng lên 1,5 lần so với năm trước. Sản lượng xe ô tô lắp ráp hàng năm đạt xấp xỉ khoảng 100 nghìn xe/năm, cao nhất đạt 112,5 nghìn xe vào năm 2009 và thấp nhất đạt 62,9 nghìn xe vào năm 2013. Năm 2014 đạt 83,0 nghìn xe. Số lượng ô tô sản xuất và lắp ráp trong nước đáp ứng được khoảng 56% nhu cầu, trong đó xe khách đáp ứng khoảng 94%, xe tải đáp ứng 74%.
Các doanh nghiệp này sản xuất ra số lượng xe có sự nâng cao rõ rệt song tỷ trọng còn thấp. Trong 13 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì công ty Toyota Việt Nam đứng đầu về sản lượng, tiếp theo là General Motors và Ford có sản lượng chiếm vị trí thứ 3. Như vậy, mỗi liên doanh có sản lượng trung bình năm khoảng 10.000 xe/năm và sản lượng bình quân của mỗi chủng loại xe sản xuất tại Việt Nam chỉ là 417“xe/năm. Trong khi đó, sản lượng loại xe này của 1 số nước khác trong khu vực nhiều hơn so với Việt Nam, ví dụ sản lượng ô tô trung bình mỗi năm của Hàn Quốc là 13.552 xe, của Malaysia là 615.
Điều này cho thấy năng lực sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất ô tô Việt Nam còn nhỏ bé, bằng 1% nếu so sánh với quy mô bình quân của ASEAN,”tương đương 1,7% quy mô bình quân của Hoa Kỳ và 1,93% quy mô bình quân của Nhật.1: Sản lƣợng xe lắp ráp của các doanh nghiệp FDI giai đoạn 2010-2015 Đơn vị: chiếc STT Liên doanh 2010 2011 2012 2013 2014 2015 1 Công ty ô tô Mekong 409 670 464 288 264 402 Công ty TNHH ô tô Sanyang Việt 2 1.101 690 344 307 249 165 Nam (SMV) Công ty TNHH liên doanh ô tô 3 724 1.134 470 55 2 - Hòa Bình (VMC) Công ty TNHH ô tô Mitsubishi 4 2.145 Việt Nam Công ty TNHH Mercedes Benz 5 3.361 Việt Nam (MBV) Công ty TNHH Việt Nam Suzuki 6 3.885 (Visuco) 7 Công ty Ford Việt Nam 7.740 Công ty TNHH General Motors 8 10.345 Việt Nam Công ty ô tô Toyota Việt Nam 9 34.285 (TMV) Công ty TNHH Ô tô Isuzu Việt 10 2.091 Nam 11 Công ty Honda Việt Nam 3.312 Công ty Liên doanh TNHH Hino 12 1.907 Motors Việt Nam Công ty TNHH Nissan Việt Nam 13 - - - - - - (NVL) Tổng số 71.16 Nguồn: Hiệp hội các Nhà sản xuất Ô tô Việt Nam (VAMA). Địa chỉ: http://vama.vn/Data/upload/files/Document/Thang12- 2014/Cover%20Letter%20Sales%20report%20-%20Dec%202014-%20VNese. Các“liên doanh có vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp ô tô vì giúp Việt Nam mở rộng được một nguồn vốn đầu tư nước ngoài khá lớn vào phát triển ngành công nghiệp này, bước đầu tiếp cận được với công nghệ, kỹ thuật sản xuất ô tô tiên tiến trên thế giới, thu hút một lực lượng lao động đáng kể, tạo tiền đề để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ cũng như ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các loại xe ô tô cao cấp.” 8 Với sự tăng trưởng kinh tế liên tục trong nhiều năm qua, cộng với đời sống của người dân đang được nâng cao, người dân có nhu cầu và có khả năng chi trả. Việc mua một chiếc xe hơi không còn quá khó khăn, hay là mơ ước xa vời như 10 năm về trước, một phần nhỏ dân số có xu hướng chơi xe, sưu tầm xe, trên đường phố Việt Nam đã có mặt những chiếc xe đời mới nhất, sang trọng và hiện đại trên thế giới, điều đó cho thấy nước ta dần trở thành một thị trường hấp dẫn đối với công nghiệp ô tô có tiềm năng tiêu thụ xe ô tô lớn trong một tương lai gần.
Tuy nhiên, các liên doanh cũng bộc lộ điểm hạn chế trong việc thu hút thị trường để mở rộng quy mô sản xuất. Sản lượng sản xuất của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam vẫn nhỏ bé như vậy một phần là do thị trường chưa đủ lớn, thu nhập người dân chưa cao nhưng một phần nữa là do cơ cấu sản phẩm của các liên doanh còn chưa hợp lý. Các doanh nghiệp này đều lắp ráp xe du lịch sang trọng, xe cao cấp với giá bán khá cao (trung bình trên 20. Trong đó, đặc biệt có các loại xe với giá cực cao như New Explorer của Ford với giá 97.758 USD, Acura NSX với giá 156.000 USD, những loại xe này chỉ đáp ứng được nhu cầu của một bộ phận người tiêu dùng”bởi vì nước ta chủ yếu dân số làm nghề nông với mức thu nhập bình quân đầu người khoảng 2.300USD/năm thì những loại xe này sẽ không phù hợp.
Mặt khác, chưa có tính hiện đại trong hoạt động sản xuất lắp ráp của các liên doanh ô tô ở Việt Nam. Có ít nhất 4 công đoạn cơ bản là dập, hàn, sơn và lắp ráp trong một nhà máy sản xuất ô tô nhưng các doanh nghiệp này mới chỉ thực hiện được 3 quy trình cuối, trừ Toyota có công đoạn dập. Cả 3 quy trình cuối đều không đòi hỏi cao về kỹ thuật và công nghệ, không phát huy tính sáng tạo và khó có thể nâng cao được tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm.” Trong khi đó, một số nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia“đang tập trung đi sâu vào loại hình IKD thì cả 13 doanh nghiệp ô tô FDI của Việt Nam mới chuyển từ lắp ráp giản đơn (SKD) sang lắp ráp chi tiết (CKD). Do vốn đầu tư của nhiều doanh nghiệp ô tô nước ngoài thấp, đầu tư không đồng bộ nên dây chuyền lắp ráp chưa hiện đại, chưa có dây chuyền lắp ráp IKD và chưa có dây chuyền sản xuất 9 linh kiện, vẫn hoàn toàn là công nghệ lắp ráp dạng CKD2 trong công nghệ sản xuất của tất cả các doanh nghiệp này.
Ngay cả những nhà máy liên doanh ô tô có vốn đầu tư cao nhất tại Việt Nam như Nhà máy lắp ráp ô tô Ford Việt Nam (125 triệu USD), Nhà máy lắp ráp ô tô Toyota Việt Nam (131,74 triệu USD), nhà máy lắp ráp ô tô Mercedes-Benz Việt Nam (85 triệu USD) thì các công đoạn lắp ráp vẫn chủ yếu được thực hiện bằng tay của công nhân. Do vậy độ chính xác của sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế, chất lượng sản phẩm chưa cao và nhất là năng suất bị hạn chế.” Theo cam kết của các liên doanh khi“bắt đầu đi vào sản xuất, sau 10 năm hoạt động, tối thiểu họ phải đạt được tỷ lệ nội địa hóa là 10%. Nhưng cho đến thời điểm này, tỷ lệ nội địa hóa cao nhất ở các liên doanh thuộc về Toyota Việt Nam cũng mới chỉ ở mức 19-37% - một con số quá nhỏ bé. Đây là một điểm hạn chế nữa trong sản xuất của các doanh nghiệp, hầu hết các linh kiện vẫn phải nhập khẩu, tỉ lệ nội địa hóa rất thấp.
Các chủng loại xe chính Theo ước tính, các liên doanh tại Việt Nam đưa ra thị trường khoảng 50 chủng loại xe khác nhau, năm nào cũng có mẫu xe mới nhưng hầu hết tập trung vào sản xuất và lắp ráp các loại xe con và xe khách dưới 24 chỗ, sản xuất ít xe tải dưới 2 tấn. Bây giờ“người dân Việt Nam có thể tha hồ lựa chọn cho mình chiếc xe thật ưng ý bởi vì chủng loại các xe không còn bó hẹp ở một số cái tên nữa. Cách đây không lâu xe ô tô được coi là mặt hàng xa xỉ, thì tính đến thời điểm hiện tại ô tô đã trở thành hàng hóa mà nhiều người có thể mua được, không nhất thiết phải có thật nhiều tiền mới”có được. Số liệu theo bảng 1.2 cho ta thấy trong năm 2015, các doanh nghiệp FDI tiêu thụ chủ yếu là dòng xe Sedans chiếm tới 51,2% trong các dòng xe chính và tập trung chủ yếu ở miền Bắc của Việt Nam.
Theo sau là các loại xe thể thao đa dụng cũng là dòng xe ưa thích của người dân Việt Nam.2: Các dòng xe chủ yếu tiêu thụ của các doanh nghiệp FDI năm 2015 Đơn vị tính: chiếc Năm 2015 Dòng xe Bắc Trung Nam Tổng số Passenger cars (PC) Sedans 34.245 Sport utility vehicles (SUV) 13.285 Cross-over cars 284 93 529 906 Multi-purpose vehicles (MPV) 3.283 Nguồn: Hiệp hội các Nhà sản xuất Ô tô Việt Nam (VAMA). Địa chỉ: http://vama.vn/Data/upload/files/Document/Thang12- 2014/Cover%20Letter%20Sales%20report%20-%20Dec%202014-%20VNese. Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đã cho ra đời rất nhiều các loại ô tô phong phú và đa dạng nên thị trường ô tô nước ta hứa hẹn sẽ sáng sủa, sôi động hơn.“Nếu trước đây, người tiêu dùng chỉ biết đến một vài nhãn hiệu xe quen thuộc như ZYL, IFAW, PRAGA, KAMAZ… nhập khẩu từ các nước Đông Âu thì nay thị trường Việt Nam đã có mặt các loại xe mới, chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn với số lượng ngày càng lớn như xe”TOYOTA VIOS, TOYOTA CAMRY, TOYOTA ALTIS, TOYOTA YARIS, TOYOTA INNOVA, TOYOTA FORTUNER, TOYOTA LANDCRUISER PRADO, TOYOTA LAND CRUISER, TOYOTA HILUX PICKUP…; FORD FIESTA, FORD FOCUS, FORD ECOSPORT, FORD EVEREST, FORD ESCAPE, FORD EXPLORER, FORD RANGER, FORD TRANSIT…; HYUNDAI GRAND I10 HATCHBACK, HYUNDAI GRAND I10 SEDAN…. Sản xuất ô tô của các doanh nghiệp trong nước 1.
Sản lượng Các doanh nghiệp trong nước mà phần lớn là các doanh nghiệp Nhà nước như Samco, Veam, Vinamotor… cũng đóng góp đáng kể vào quy mô ngành công nghiệp này nhờ có chiến lược kinh doanh hợp lý. Ngành sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước cũng đã tạo nên các thương hiệu ô tô Việt Nam như Samco, Trường Hải Auto, Vinaxuki… mà sản phẩm của họ ít nhiều đã được thị trường trong nước biết đến.