lời mở đầu, tóm tắt kết quả nghiên cứu, kết luận và các danh mục, bảng biểu,… nội dung chính được chia làm 3 chương, chi tiết như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về Hiệp định thƣơng mại tự do và Hiệp định thƣơng mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) Chƣơng 2: Tác động của Hiệp định thƣơng mại tự do Việt Nam – EU đến ngành Nông sản Việt Nam Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp nhằm tận dụng ƣu đãi từ Hiệp định thƣơng mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) cho ngành nông sản Việt Nam 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI TỰ DO VÀ HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – EU (EVFTA) 1. Cơ sở lý luận về Hiệp định thƣơng mại tự do (FTA) 1. Khái niệm về Hiệp định thƣơng mại tự do (FTA) Thương mại quốc tế đã có từ lâu đời. Từ quan hệ sản xuất trao đổi hàng hóa giản đơn đến quan hệ sản xuất hàng hóa tiền tệ, thương mại quốc tế ngày càng phổ biến và phức tạp hơn.
Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, các học giả trọng thương đã nhận thức được tầm quan trọng của ngoại thương, “Montchretien đã viết: “Nội thương là một hệ thống ống dẫn, ngoại thương là máy bơm, muốn tăng của cải phải có ngoại thương dẫn của cải qua nội thương”.” (Bùi Xuân Lưu và Nguyễn Hữu Khải, 2009, tr. Tuy nhiên, họ cũng cho rằng sự giàu có của một quốc gia được đo bằng lượng tài sản mà quốc gia đó cất giữ (vàng), nên xuất khẩu được đẩy mạnh, ưu tiên xuất khẩu hàng hóa có giá trị cao, nhập khẩu giữ ở mức tối thiểu và chỉ nhập khẩu nguyên liệu thô giá trị thấp. Ngoại thương đã bắt đầu phát triển nhưng chưa thực sự cởi mở và có sự bảo vệ nền kinh tế nội địa. Từ nửa sau thế kỷ XVIII, các nhà kinh tế học châu Âu đã có nhận thức đúng hơn về sự giàu có của một quốc gia và tầm quan trọng của nguyên tắc phân công lao động.
Đặc biệt phải kể đến Học thuyết Bàn tay vô hình của Adam Smith và Lợi thế tương đối của David Ricardo. Hai học thuyết này đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của thương mại quốc tế, thúc đẩy mở cửa nền kinh tế, tự do hóa thương mại, là cơ sở cho sự ra đời và phát triển của nền kinh tế thị trường ngày nay. Hiệp định thương mại tự do (FTA) là kết quả của quá trình đàm phán giữa các quốc gia trong quá trình giao thương với nhau. Hiệp định thương mại tự do (FTA) có rất nhiều định nghĩa, có rất nhiều nhà học giả, tổ chức và các quốc gia đưa ra khái niệm về FTA của riêng mình.
Quan điểm truyền thống Khái niệm FTA được đưa ra trong điểm 8b điều XXIV GATT 1947 với nội dung: “Một khu vực thương mại tự do được hiểu là một nhóm gồm hai hay nhiều vùng lãnh thổ trong đó thuế và các rào cản thương mại khác (trừ trường hợp được phép theo Điều XI, XII, XIII, XV và XX) được dở bỏ đối với phần lớn các mặt 6 hàng có xuất xứ từ các lãnh thổ đó và được tiến hành trao đổi thương mại giữa các lãnh thổ thuế quan đó”. GATT không có định nghĩa trực tiếp về FTA, nhưng FTA là cơ sở để thiết lập một khu vực mậu dịch hay một liên minh thuế quan. Thông qua khái niệm về Khu vực thương mại tự do, ta có thể thấy được tư tưởng của GATT về Hiệp định thương mại tự do như sau: Thứ nhất, trong một Khu vực Thương mại tự do thì các nước thành viên cam kết cắt giảm thuế và các rào cản thương mại khác. Thứ hai, đối tượng cắt giảm thuế và các rào cản thương mại khác là các mặt hàng có xuất xử từ các nước thành viên trong Khu vực Thương mại tự do.
Thứ ba, khái niệm này cho thấy GATT mới chủ yếu quan tâm đến thương mại hàng hóa – trao đổi mua bán hàng hóa hữu hình. Qua đây có thể thấy quan niệm truyền thống về FTA mới chỉ dừng lại ở phạm vi thương mại hàng hóa hữu hình và mức độ cam kết tự do hóa cũng mới dừng ở cắt giảm thuế quan và dần gỡ bỏ các rào cản thương mại khác. Các FTA điển hình theo khái niệm này là: FTA ASEAN (AFTA). Quan điểm mới về FTA Từ thập niên 1990 trở lại đây, khái niệm Hiệp định Thương mại tự do FTA đã được mở rộng hơn về phạm vi và sâu hơn về cam kết tự do hóa.
Các FTA ngày nay không chỉ dừng lại ở phạm vi cam kết cắt giảm thuế quan và hàng rào phi thuế quan, mà còn bao gồm nhiều vấn đề rộng hơn cả cam kết trong khuôn khổ GATT/WTO cũng như một loạt vấn đề mới mà WTO chưa có quy định. Phạm vi cam kết của các FTA “thế hệ mới” bao gồm toàn bộ hàng hóa dịch vụ mà không có loại trừ, và cả lĩnh vực phi thương mại như: lao động, môi trường, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp nhà nước, giải quyết tranh chấp trong thương mại,… Mức độ cam kết của FTA thế hệ mới sâu nhất, cắt giảm thuế gần như về 0%, có thể có lộ trình. Trung tâm WTO Center thuộc VCCI có giải thích khái niệm FTA theo quan mới như sau: “Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement – FTA) là một 7 thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều Thành viên nhằm loại bỏ các rào cản đối với phần lớn thương mại giữa các Thành viên với nhau”. Phạm vi “thương mại” trong các FTA được hiểu theo nghĩa rộng, có thể bao gồm tất cả các hoạt động kinh doanh sinh lời, trong đó có thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và cả các vấn đề khác liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới thương mại (sở hữu trí tuệ, mua sắm công, lao động, môi trường…).
Trang web của Cơ quan Thương mại quốc tế, Bộ Thương mại Hoa Kỳ cũng có định nghĩa về FTA như sau: “A Free trade Agreement (FTA) is an agreement between two or more countries where the countries agree on certain obligations that affect trade in goods and services, and protections for investors and intellectual property rights, among other topics.” Theo đó, FTA là một thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia với nhau, trong đó các quốc gia nhất trí với một số nghĩa vụ ảnh hưởng đến thương mại hàng hóa dịch vụ, bảo vệ nhà đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ và các vấn đề khác. Như vậy, nếu so sánh với các hiệp định của WTO, thì các FTA “thế hệ mới” chính là các hiệp định “WTO cộng”, với những nội dung trước đây từng bị từ chối, thì nay lại cần thiết phải chấp nhận, bởi bối cảnh thương mại quốc tế đã thay đổi. Các FTA “thế hệ mới” điển hình như: FTA Việt Nam-EU (EVFTA); Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Đặc điểm của Hiệp định thƣơng mại tự do thế hệ mới Hội nhập quốc tế là yêu cầu tất yếu trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia.
Các nước trên thế giới đều tích cực, nỗ lực tham gia các Hiệp định thuơng mại tự do, các khu vực mậu dịch tự do nhằm tạo động lực trong tăng trưởng và phát triển kinh tế. FTA chính là kết quả phản ánh quá trình hội nhập và toàn cầu hóa thương mại trên thế giới. Từ khi xuất hiện đến nay, FTA đã có 3 thế hệ: FTA thế hệ đầu tập trung vào tự do hóa thương mại hàng hóa với việc cắt giảm thế quan và loại bỏ các hàng rào phi thuế quan, FTA thế hệ thứ hai tiếp tục phát triển và ra đời với việc tự do hóa thêm về thương mại dịch vụ và FTA thế hệ thứ ba hay còn gọi là 8 FTA thế hệ mới với phạm vi tự do hóa bao gồm cả các lĩnh vực phi truyền thống cùng với mức độ cam kết sâu rộng hơn. Để nhận biết FTA thế hệ mới, ta thường căn cứ vào các đặc điểm sau: Về phạm vi cam kết: Ngoài lĩnh vực thương mại và đầu tư như trong các FTA truyền thống, FTA thế hệ mới còn mở rộng với các lĩnh vực “phi thương mại” như: lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ nhằm tạo môi trường kinh doanh minh bạch và cạnh tranh công bằng giữa các thành viên.
Về mức độ tự do hóa thương mại: Khi tham gia FTA thế hệ mới, các nền kinh tế cam kết cắt giảm phần lớn hàng rào thuế quan và gỡ bỏ hàng rào phi thuế quan. Độ mở cửa của các nền kinh tế thành viên là rất cao, các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ… cơ bản được tự do luân chuyển trong phạm vi không gian các nước thành viên FTA. Về độ linh hoạt: Trong các FTA truyền thống, lộ trình cắt giảm thuế thường kéo dài không quá 10 năm, còn trong FTA thế hệ mới, lộ trình được đẩy nhanh hơn. Rào cản thuế quan được cắt giảm về 0% đối với 95% đến 100% số dòng thuế ngay lập tức, theo lộ trình đối với một số mặt hàng nhạy cảm hoặc được áp dụng biện pháp hạn ngạch thuế quan.
Về cơ chế giảm sát: FTA thế hệ mới có yêu cầu cao hơn, chắt chẽ hơn trong quá trình thực thi. Các FTA cho phép bên nhập khẩu tạm ngừng ưu đãi thuế quan nếu phát hiện có gian lận xuất xứ hoặc nước xuất khẩu không hợp tác xác minh xuất xứ. Về cơ chế pháp lý trong giải quyết các tranh chấp phát sinh: Các FTA thế hệ mới nêu rõ quy chế giải quyết tranh chấp bằng việc Nhà nước kiện Nhà nước hoặc nhà đầu tư kiện Nhà nước, mà trong các FTA thế hệ cũ không quy định. Vai trò của Hiệp định thƣơng mại tự do FTA có vai trò rất quan trọng trong thúc đẩy tự do thương mại trên thế giới.
Có thể kể đến một số vai trò nổi bật như: 9 Một là, từ sau bế tắc của vòng đàm phán Doha năm 2008, các nước phát triển và các nước đang phát triển chưa đi đến những thỏa thuận về thị trường nông sản, sự bất đồng lợi ích cùng với xu hướng tự do hóa mạnh mẽ về thương mại như một nhu cầu cấp thiết của mỗi quốc gia, Hiệp định thương mại tự do ngày càng phát huy được vai trò trong việc thúc đẩy tự do hóa thương mại. FTA ưu việt hơn so với WTO về thời gian đàm phán ngắn, lĩnh vực đàm phán rộng và các quốc gia dễ tìm được sự đồng thuận hơn. Có thể nói, FTA thế hệ mới là giải pháp khả thi nhất, khắc phục được các hạn chế hiện tại của WTO.