Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng chiến lược kinh doanh của Công ty Cổ phần Oristar“giai đoạn”2016 – 2018 Chương 3: Giải pháp “xây dựng chiến lược kinh doanh của Công ty Cổ phần” Oristar đến năm 2030 trong điều kiện thực thi các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƢỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP “ 1. Khái niệm, vai trò và phân loại chiến lược kinh doanh đối với doanh nghiệp “Chiến lược” là một thuật ngữ bắt nguồn từ Hy Lạp “Strategous” dựng trong quân sự, thuật ngữ này được hiểu là nghệ thuật ở vị trí ưu thế. Một xuất bản của Larous xem: “Chiến lược là nghệ thuật chỉ huy các phương tiện để giành chiến thắng”. Chiến lược được áp dụng vào lĩnh vực kinh doanh và thuật ngữ “Chiến lược kinh doanh” ra đời từ đầu thập niên 60s của thế kỷ XX.
Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chiến lược Có rất nhiều quan niệm khác nhau về chiến lược, theo thời gian và mục đích nghiên cứu mà người ta tiếp cận nó theo nhiều cách khác nhau: Theo Chandler định nghĩa: “Chiến lược là việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như việc phân bổ nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này”. Stretegy and Structure. Gouillart: “Chiến lược của doanh nghiệp là toàn bộ các quyết định nhằm vào chiếm được các vị trí quan trọng, phòng thủ và tạo các kết quả khai thác và sử dụng ngay được”.
Theo Bruce Henderson: “Chiến lược là sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức”. Porter cũng tán đồng nhận định của Henderson:”“Chiến lược cạnh tranh liên quan tới chuỗi hoạt động khác biệt để tạo ra một tập hợp giá trị độc đáo”. Thuật ngữ “Chiến lược” đã được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực ở cả phạm vi vĩ mô cũng là vi mô. Ở phạm vi doanh nghiệp, ta thường gặp thuật ngữ Chiến lược kinh doanh, Chiến lược công ty, Quản trị chiến lược … Ở khía cạnh khác nhau chiến lược cũng khác nhau về mặt cấp độ nhận diện: 8 Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh, Chiến lược cấp chức năng … “ Dù tiếp cận theo quan niệm nào về chiến lược kể trên, thì chúng ta cũng có thể rút ra bản chất: “Chiến lược là tìm kiếm, xác định các mục tiêu cơ bản và việc đưa ra tập hợp các kế hoạch hành động để đạt đạt được mục tiêu đó”.
Khái niệm chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh là kế hoạch kiểm soát và sử dụng nguồn lực, tài sản tài chính nhằm mục đích nâng cao và bảo đảm những quyền lợi thiết yếu của mình. Quan điểm phổ biến hiện nay cho rằng: “Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật phối hợp các hoạt động và điều khiển chúng nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp”. Ngô Kim Thanh (2011). “ Đặc điểm của chiến lƣợc kinh doanh Chiến lược kinh doanh chỉ phác thảo những phương hướng hoạt động của doanh nghiệp trong dài hạn, khung hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai.
Chiến lược kinh doanh xây dựng trên cơ sở các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để đảm bảo tối đa và kết hợp tốt với việc khai thác và sử dụng các nguồn lực (Nhân lực, tài sản lực cả hữu hình và vô hình), năng lực cốt lõi của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai nhằm phát huy những lợi thế, nắm bắt cơ hội để giành ưu thế trong cạnh tranh. Chiến lược kinh doanh được hình thành và thực hiện trên cơ sở phát hiện và tận dụng các cơ hội kinh doanh, các lợi thế so sánh của doanh nghiệp nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh cao. Chiến lược kinh doanh phản ánh trong cả một quá trình liên tục từ xây dựng đến tổ chức thực hiện, đánh giá, kiểm tra và điều chỉnh chiến lược. Vai trò của chiến lược kinh doanh với doanh nghiệp “Thực hiện “chiến lược kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh được ví như bánh lái của con tàu để nó vượt được trùng khơi về trúng đích khi nó mới khởi sự doanh nghiệp.
Nó còn được ví như cơn gió giúp cho diều bay lên cao mãi, và thực tế những nhà tỷ phú, do sai lầm trong đường lối kinh doanh của mình đã phải trao đi cơ ngơi cho địch thủ của mình trong thời gian ngắn. Chiến lược kinh doanh được ví như kim chỉ nam dẫn đường cho doanh nghiệp đi đúng hướng, vì thế vai trò chiến lược kinh 9 doanh đối với doanh nghiệp được thể hiện trên các khía cạnh sau: (1) Chiến lược kinh doanh giúp cho doanh nghiệp nhận rõ được mục đích hướng đi của mình trong tương lai và lấy nó làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. (2) Chiến lược kinh doanh giúp cho doanh nghiệp nắm bắt và tận dụng các cơ hội kinh doanh, đồng thời có biện pháp chủ động đối phó với những nguy cơ và mối đe dọa trên thương trường kinh doanh. (3) Chiến lược kinh doanh góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tăng cường vị thế của doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và bền vững.
(4) Chiến lược kinh doanh tạo ra các căn cứ vững chắc cho doanh nghiệp, đề ra các quyết định phù hợp với sự biến động của thị trường. Phân loại chiến lược kinh doanh 1. Phân loại theo cấp độ chiến lược a. Cấp toàn doanh nghiệp (Coporate level) “ Các công việc là xác định sứ mệnh, nhiệm vụ và mục tiêu cho doanh nghiệp, các nhà quản trị cấp cao sẽ đưa ra các quyết định quan trọng như: Có nên xâm nhập thị trường mới, hay rút chân khỏi thị trường; nên hay không tham gia liên kết, sáp nhập hay thôn tính công ty khác; theo đuổi chiến lược đa dạng hóa hay tập trung chuyên sâu; … Giám sát việc phân bổ các nguồn lực và quản trị quá trình đầu tư của công ty.
Làm cầu nối giữa những người quản lý doanh nghiệp với các cổ đông. Có trách nhiệm đảm bảo các chiến lược mà công ty đang theo đuổi để bảo vệ cổ đông và giá trị cổ phiếu doanh nghiệp trên thị trường. Chiến lược đơn vị, bộ phận (Divisional level) Nhiệm vụ hoạch định chiến lược của đơn vị, nhưng vẫn phải đảm bảo đi đúng hướng và góp phần vào sự phát triển chung của toàn doanh nghiệp. Những nhà quản trị chiến lược tại các phòng ban, bộ phận sẽ có trách nhiệm truyền đạt thông tin và định hướng, mục đích chiến lược chung toàn doanh nghiệp thành mục 10 đích bộ phận, những chiến lược chi tiết cho bộ phận riêng họ.
Chiến lược cấp chức năng (Functional level) “ Các nhà quản trị chịu trách nhiệm về những chức năng riêng biệt như nhân sự, sản xuất, tiếp thị Marketing, nghiên cứu phát triển… Xây dựng lên những chiến lược bộ bận phận của riêng họ. Ví dụ: Tại bộ phận nhân sự sẽ có trách nhiệm cùng với các bộ phận có liên quan lập ra chiến lược nhân sự cho tổ chức; Bộ phận thị trường sẽ lập ra các chiến lược Marketing; Bộ phận nghiên cứu phát triển (R&D) sẽ lập ra chiến lược nghiên cứu phát triển. Phân loại theo phạm vi Theo phạm vi triển khai hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh được phân thành: Chiến lược kinh doanh nội địa và chiến lược kinh doanh quốc tế. Chiến lược kinh doanh nội địa Chiến lược kinh doanh nội địa là các chiến lược nhằm tập trung các nguồn lực của doanh nghiệp để phát huy năng lực của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển và chiến thắng các đối thủ cạnh tranh trên thị trường nội địa.
Doanh nghiệp chỉ hoạt động trong phạm vi thị trường quốc gia và các chiến lược của doanh nghiệp được xây dựng trên cơ sở xem xét môi trường kinh doanh cùng các yếu tố cạnh tranh trên thị trường nội địa. Chiến lược kinh doanh quốc tế “Chiến lược kinh doanh quốc tế là chiến lược của doanh nghiệp nhằm mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế trên cơ sở huy động, phân bổ các nguồn lực nhằm ứng phó với những biến động và thách thức trên thị trường quốc tế và đạt được các mục tiêu dài hạn cảu doanh nghiệp.”Khi một doanh nghiệp quyết định tham gia hoạt động trên thị trường quốc tế, doanh nghiệp có thể triển khai hoạt động kinh doanh của mình tại một hoặc một vài thị trường nước ngoài và khi đó doanh nghiệp được xem là một doanh nghiệp canh tranh quốc tế hoặc cạnh tranh trên thị trường đa quốc gia. Nếu một doanh nghiệp phát triển thị trường ở hầu hết các quốc gia chủ yếu trên thế giới, khắp các lục địa thì được xem như một công ty cạnh tranh toàn cầu. Thực tế, dù doanh nghiệp triển khai hoạt động của mình ở phạm vi một quốc gia hay toàn cầu, các công ty đều có tham vọng tiếp tục mở rộng thêm thị trường 11 sang nhiều quốc gia hơn trong quá trình phát triển của mình.
Phân loại theo hướng tiếp cận a. Chiến lược tập trung “Trong kinh doanh có rất nhiều các vấn đề giải quyết, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh và nâng cao sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhưng để làm được điều đó lại đòi hỏi nguồn lực lớn mà nhiều khi doanh nghiệp không thể đáp ứng ngay được. Do đó, chiến lược tập trung vào các yếu tố then chốt làm cho doanh nghiệp tìm ra mặt quan trọng nhất để đầu tư nguồn lực chứ không phải rải nguồn lực (đầu tư dàn trải) ra để giải quyết mọi vấn đề cùng một lúc.
Chiến lược dựa trên sự ưu thế tương đối “Chiến lược dựa trên các ưu thế tương đối là chiến lược được xây dựng trên sự phân tích ưu điểm, nhược điểm của các đối thủ cạnh tranh với doanh nghiệp để có phương thức phù hợp trong cạnh tranh. Chiến lược sáng tạo tận cùng Chiến lược sáng tạo tận cùng là chiến lược luôn đặt ra câu hỏi tại sao?” Chính những câu hỏi này sẽ xét đến các điều kiện tưởng như là hiển nhiên để xem lại hiệu quả cho doanh nghiệp d. Chiến lược tự do Tận dụng cơ hội kinh doanh dựa trên tất cả những điều kiện mà doanh nghiệp có thể có. “ Chúng ta cần chú ý rằng, sự phân loại trên đây chỉ mang tính tương đối vì mỗi loại chiến lược kinh doanh theo phân loại trên đều xét đến các yếu tố chiến lược kinh doanh khác nhau.
Phân loại dựa vào sự kết hợp giữa sản phẩm và thị trường Theo cách phân loại này, chiến lược kinh doanh gồm: a.