phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện phát triển hệ thống kiểm soát nội bộ tại tổng công ty Hàng Hải Việt Nam 6. Kết quả đạt đƣợc và những điểm mới của đề tài. Đề tài đã giải quyết đƣợc yêu cầu cơ bản của đề tài. Đó là đánh giá tác động các bộ phận của hệ thống KSNB tới kết quả kinh doanh bằng mô hình hồi quy tƣơng đối chính xác.
Đây là điểm mới chƣa từng có trong các đề tài nghiên cứu trƣớc đó. Những hạn chế của đề tài: Việc đánh giá sự ảnh hƣởng của hệ thống KSNB đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc xác định trên hệ thống câu hỏi, sử dụng phần mềm SPSS để tổng hợp. Kết quả nghiên cứu phụ thuộc nhiều vào câu trả lời của ngƣời đƣợc hỏi tại một thời điểm nên có thể chƣa đánh giá hết mức độ tác động của hệ thống KSNB. 8 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Hệ thống Kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp 1.Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Nói về hệ thống kiểm soát nội bộ là nói đến hệ thống các chính sách, thủ tục, các bƣớc kiểm soát do lãnh đạo đơn vị xây dựng có tính chất bao trùm tất cả mọi lĩnh vực trong đơn vị.
Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm cả kiểm soát nội bộ và bản thân con ngƣời cùng với những phƣơng tiện có tính chất kỹ thuật, cấu trúc hƣớng vào kiểm soát mang tính bền vững, ổn định, đảm bảo và lâu dài. Hệ thống kiểm soát nội bộ thƣờng đƣợc bản thân các lãnh đạo đơn vị xây dựng, thiết lập hƣớng vào kiểm soát các hoạt động trong phạm vi và trách nhiệm của đơn vị. Bản thân các đơn vị phải có trách nhiệm xây dựng, duy trì một hệ thống kiểm soát nội bộ khoa học, phù hợp và hiệu quả để đảm bảo kiểm soát hoạt động trong phạm vi đơn vị, ngăn ngừa sai phạm, đạt đƣợc mục tiêu, yêu cầu mà đơn vị đặt ra. Tuy nhiên, một hệ thống kiểm soát nội bộ có khoa học và hiệu lực, hiệu quả đến đâu cũng luôn có những hạn chế cố hữu hay hạn chế vốn có của nó không thể tránh khỏi.
Hệ thống kiểm soát nội bộ là hệ thống kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp đồng thời cũng kiểm soát tuân thủ trong quản lý của các nhà quản trị. Nó vừa đồng thời kiểm soát cấp dƣới và kiểm soát cả chính nhà quản trị với mục tiêu bảo vệ nguồn lực của đơn vi, tránh rủi ro có thể xẩy ra và hƣớng doanh nghiệp theo mục tiêu đã định. Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách và thủ tục đựơc thiết lập nhằm đạt đựơc 4 mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả của hoạt động. - Bảo vệ tài sản của đơn vị : 9 Hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ bảo vệ các tài sản của đơn vị (bao gồm tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình) và cả các tài sản phi vật chất nhƣ sổ sách kế toán, các tài liệu quan trọng…khỏi bị đánh cắp, hƣ hại hoặc bị lạm dụng vào những mục đích khác nhau.
- Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin: Thông tin kinh tế tài chính do bộ máy kế toán xử lý và tổng hợp là căn cứ quan trọng cho việc hình thành các quyết định của nhà quản lý vì vậy các thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác và độ tin cậy về thực trạng hoạt động và phản ánh đầy đủ khách quan các nội dung kinh tế chủ yếu của mọi hoạt động. - Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý: Hệ thống kiểm soát nội bộ đƣợc thiết kế trong doanh nghiệp phải đảm bảo các quyết định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải đƣợc tuân thủ đúng mức. Các quá trình kiểm soát trong một đơn vị đƣợc thiết kế nhằm ngăn ngừa sự lặp lại không cần thiết các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực. Bốn mục tiêu nói trên của hệ thống kiểm soát nội bộ đều nằm trong một thể thống nhất tuy nhiên đôi khi cũng có mâu thuẫn với nhau nhƣ giữa tính hiệu quả của hoạt động với mục đích bảo vệ tài sản, sổ sách hoặc cung cấp thông tin đầy đủ và tin cậy.
Cụ thể nhƣ nếu chúng ta muốn tăng cƣờng việc bảo vệ tài sản thì sẽ làm tăng thêm chi phí nhƣ vậy sẽ không đảm bảo đƣợc mục tiêu nâng cao tính hiệu quả của hoạt động. Vậy nhiệm vụ của các nhà quản lý là xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và kết hợp hài hòa bốn mục tiêu nói trên. Theo tiêu chuẩn của Kiểm toán Việt Nam, dưới góc độ của các kiểm toán viên(Theo chuẩn mực kiểm toán số 315):Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315 đƣợc ban hành theo thông tƣ số 214/2012 TT-BTC có hiệu lực từ ngày 01 01 2014 đã thay thế cho chuẩn mực kiểm toán Việt Nam cũ số 400 trƣớc đây giải thích về KSNB 10 Kiểm soát nội bộ: Là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt đƣợc mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan. Thuật ngữ “kiểm soát” đƣợc hiểu là bất cứ khía cạnh nào của một hoặc nhiều thành phần của kiểm soát nội bộ; Theo đó: Kiểm soát nội bộ là quy trình có nghĩa nó là một phƣơng pháp cụ thể để thực hiện một quá trình hay công việc.
Quy trình thƣờng đƣợc thể hiện bằng văn bản. Nhƣ vậy, thông thƣờng các đơn vị phát triển các “Quy trình” nhằm thực hiện và kiểm soát các “Quá trình” của mình. Một quy trình có thể nhằm kiểm soát nhiều quá trình, và ngƣợc lại, một quá trình có thể đƣợc kiểm soát bằng nhiều quy trình. Kiểm soát nội bộ do Ban quản trị , Ban giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế , thực hiện và duy trì.
Kiểm soát nội bộ đƣợc thiết kế và duy trì bởi con ngƣời. Kiểm soát nội bộ là công cụ đƣợc nhà quản lý sử dụng, không thay thế đƣợc nhà quản lý. Kiểm soát nội bộ đảm bảo hơp lý mục tiêu về đô tin cậy của báo cáo tài chính, sự tuân thủ pháp luật và quy định liên quan. Kiểm soát nội bộ chỉ đảm bảo sự hợp lý không phải tuyệt đối trong việc đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức Đứng trên góc độ nghiên cứu về lĩnh vực kiểm toán thì Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm toàn bộ các chính sách và các thủ tục kiểm soát đƣợc thiết lập nhằm mục đích quản lý và điều hành hoạt động của đơn vị.
Kiểm toán viên đánh giá hệ thống KSNB trƣớc khi tiến hành kiểm toán với mục đích thiết lập độ tin cậy vào hệ thống KSNB để xác định nội dung, thời gian và phạm vi của các bƣớc kiểm toán cơ bản. Việc nhận biết hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp đƣợc kiểm toán viên thực thi nhƣ một phần của việc lập kế hoạch kiểm toán. Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên xem xét lại hệ thống kế toán và quy trình KSNB có liên quan để thu thập các hiểu biết về sự lƣu chuyển của các nghiệp vụ và các bƣớc kiểm soát đặc biệt. Điều đó 11 giúp kế toán viên đánh giá sơ bộ và xác định tính đầy đủ và tính hữu hiệu của quy trình KSNB mà kiểm toán viên dựa vào khi thực thi công việc kế toán.
COSO đƣợc thành lập nhằm nghiên cứu về kiểm soát nội bộ phục vụ cho các đối tƣợng khác nhau và đƣa ra các bộ phận cấu thành để giúp các đơn vị có thể xây dựng đƣợc hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu Kiểm soát nội bộ đƣợc định nghĩa khác nhau , hiện nay định nghĩa đƣợc chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của COSO. Tháng 5 năm 2013, Báo cáo của COSO đã đƣợc cập nhật, thay đổi so với báo cáo năm 1992, đƣợc công bố dƣới tiêu đề Kiểm soát nội bộ-Khuôn khổ hợp nhất. Báo cáo này vẫn giữ nguyên định nghĩa về Kiểm soát nội bộ trong báo cáo 1992 “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi ngƣời quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị , nó đƣợc thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt đƣợc các mục tiêu” [9] Theo định nghĩa của COSO, có bốn khái niệm quan trọng cần lƣu ý, đó là: quá trình, con ngƣời, đảm bảo hợp lý và mục tiêu. KSNB là một quá trình, tức khẳng định KSNB không phải là một sự kiện hay tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện rộng khắp trong doanh nghiệp.
KSNB tỏ ra hữu hiệu nhất khi nó đƣợc xâ dựng nhƣ một phần cơ bản trong hoạt động của doanh nghiệp chứ không phải là một sự bổ sung cho các hoạt động của doanh nghiệp hoặc là một gánh nặng bị áp đặt bởi các cơ quan quản lý hay thủ tục hành chính. KSNB phải là một bộ phận giúp doanh nghiệp đạt đƣợc mục tiêu của mình. KSNB bị chi phối bởi con ngƣời trong đơn vị (bao gồm ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên). Con ngƣời đặt ra mục tiêu và đƣa cơ chế kiểm soát vào vận hành hƣớng tới các mục tiêu đã định.
Ngƣợc lại, KSNB cũng tác động đến hành vi của con ngƣời. Mỗi cá nhân có một khả năng, suy nghĩ và ƣu 12 tiên khác nhau khi làm việc và họ không phải luôn luôn hiểu rõ nhiệm vụ của mình cũng nhƣ trao đổi và hành động một cách nhất quán.