phần mở đầu, kết luận khuyến nghị và tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của vấn đề phát triển đội ngũ giảng viên Chƣơng 2: Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Bách Khoa Hưng yên Chƣơng 3 : Những giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Bách Khoa Hưng yên 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Sơ lƣợc lịch sử vấn đề Một trong những nội dung quan trọng của QLNN trong lĩnh vực GD & ĐT là chăm lo xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng GV các cấp; đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên để chuẩn hoá ĐNGV, đáp ứng cả về số lượng, chất lượng.ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần đối với GV. Chủ trương XHHGD đã khuyến khích, huy động các cộng đồng, các tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp và cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho phát triển GD, đa dạng hoá các loại hình nhà trường và hình thức GD, qua đó góp phần mở rộng quy mô ở mọi bậc học, cấp học nhằm đáp ứng nhu cầu học ngày càng cao của nhân dân. Tuy vậy, xét trên tổng thể hệ thống, GD vẫn chưa tạo được khâu đột phá trong việc góp phần giải quyết mâu thuẫn lớn của GD hiện nay giữa một bên là yêu cầu cao về phát triển quy mô và nâng cao chất lượng với một bên là điều kiện còn hạn hẹp của nguồn nhân lực.
Chủ đề phát triển nguồn nhân lực, tập trung phát triển ĐNGV là chủ đề được nêu lên rất nhiều lần trong các văn bản của Đảng, Nhà nước và các cấp QL ngành GD. Nghị quyết 04 Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII 1993 khẳng định: "Nhiều năm trước đây đầu tư cho GD chủ yếu được coi là đầu tư cho phúc lợi XH. Ngày nay đầu tư cho GD là đầu tư để phát triển con người, phát triển XH”. Đây là Hội nghị TW đầu tiên trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra nghị quyết riêng và tiếp tục đổi mới sự nghiệp GD, hướng vào sự nghiệp phát triển con người.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng chỉ rõ: “Để tiến hành CNH, HĐH thắng lợi, phải phát triển mạnh GD - ĐT, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW khoá VIII về định hướng chiến lược phát triển GD - ĐT trong thời kỳ CNH, HĐH khẳng định: “Giáo viên là khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển GD và phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hoá ĐNGV cũng như đội ngũ QLGD cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ”. Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 đã đưa ra bảy giải pháp về phát triển GD, trong đó phải kể đến giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả và đổi mới phương pháp GD - một giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện mục tiêu: tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng, ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực KHCN trình độ cao.tăng quy mô đào tạo thạc sĩ từ 11.727 học viên vào năm 2000 lên 38.000, nghiên cứu sinh từ 3. Một số tác giả cũng đóng góp tiếng nói của mình trong việc nâng cao chất lượng giáo dục bằng cách đưa các giải pháp phát triển ĐNGV như: Nguyễn Thị Mỹ Lộc với bài viết “Đào tạo giáo viên đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế” đã đưa ra một trong những giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập của người GV: “Phải là những nhà chuyên môn giỏi và có phẩm chất chính trị vững vàng…” [30, tr.
Bùi Đức Thiệp “Kinh nghiệm giáo dục Trung Quốc trong tiến trình gia nhập WTO – cách tiếp cận của giáo dục Việt Nam trong quá trình chuẩn bị hội nhập quốc tế đưa ra sáu giải pháp nhằm chuẩn bị cho GD nước ta tham gia tích cực vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và gia nhập WTO nói riêng, trong đó có đề cập đến giải pháp “Xây dựng và tăng cường năng lực đội ngũ giáo viên [30, tr.168], đề cập đến vấn đề phát triển ĐNGV cơ hữu trong các trường ngoài công lập. Tác giả Nguyễn Công Giáp có bài “Những thách thức đối với giáo dục Việt Nam khi gia nhập WTO và các giải pháp”, trong đó, tác giả nhấn 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mạnh đến việc tuyển dụng, xây dựng kế hoạch và quy hoạch nhằm bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực nghiên cứu khoa học và các kiến thức cần thiết khác để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế [30, tr. Những năm gần đây, ngành GD & ĐT đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo khoa học, hội tụ các nhà sư phạm, nhà khoa học, nhà quản lí uy tín nhằm nghiên cứu những giải pháp phát triển ĐNGV, như hội thảo toàn quốc lần thứ III “Nâng cao chất lượng đào tạo” được tổ chức tại Hà nội tháng 6 năm 2002, hội thảo “Đổi mới giáo dục ĐH Việt Nam - Hội nhập và thách thức” tháng 3 năm 2004, hội nghị Hiệu trưởng các trường ĐH, CĐ (10/5/2006) với bản báo cáo có tiêu đề “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục ĐH Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước”, hội thảo quốc tế (14/8/2007): “GD trong toàn cầu hoá: Cơ hội, thách thức và ý nghĩa đối với Việt Nam và khu vực”. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1.
Các khái niệm liên quan đến vấn đề quản lí 1.1 Quản lí Xã hội loài người đã trải qua hàng vạn năm, qua rất nhiều thời kỳ phát triển của lịch sử, “Quản lí đã trở thành một hoạt động phổ biến diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó là loại hoạt động XH bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hiệp tác để làm một công việc nhằm đạt mục tiêu chung [7, tr. Có nhiều quan điểm khác nhau về QL tuỳ thuộc vào các cách tiếp cận cũng như góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh XH, KT, chính trị. Dưới đây là một số quan điểm quản lí của nước ngoài: Từ khi Frederick Winslow Taylor (1856-1915) phát biểu các nguyên lí về QL thì QL nhanh chóng phát triển thành một ngành khoa học.
Được coi là cha đẻ của Thuyết quản lí khoa học, ông định nghĩa: “Quản lý” là cải tạo mối quan hệ giữa người với người, giữa người với máy móc, QL là nghệ thuật 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và cái đó làm thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [20, tr. Henri Fayol (1841-1925) với cống hiến lớn nhất của mình là xuất phát từ các loại hình "hoạt động quản lý", ông là người đầu tiên đã phân biệt chúng thành năm chức năng cơ bản: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra mà sau này chúng được kết hợp thành 4 chức năng kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra [19, tr. Mary Parker Follett (1868-1933) ngay từ những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX đã có những đóng góp quan trọng vào thuyết hành vi trong QL. Ông cho rằng đây là một quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại, nhấn mạnh đến việc lôi cuốn người thuộc cấp tham gia giải quyết vấn đề và tính động của sự QL thay vì những nguyên tắc tĩnh [19, tr.
Mục đích của mọi nhà QL là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [13, tr. Một số quan điểm của Việt nam: Từ điển Tiếng Việt thông dụng, QL là “ Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan” [18, tr. Nghiên cứu về khoa học QL, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng định nghĩa về QL sẽ rõ ràng hơn khi “QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [20, tr. Theo tác giả Trần Khánh Đức: QL “Là một hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể QL nhằm tác động lên khách thể QL để thực hiện những mục tiêu xác định của công tác QL” [27, tr.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com QL là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất [6, tr. Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về QL, nhưng nhìn chung các định nghĩa đều đề cập đến bản chất của hoạt động QL, đó là: - QL bao giờ cũng là một hoạt động hướng đích với mục tiêu xác định. - QL có sự tác động biện chứng qua lại lẫn nhau giữa chủ thể và khách thể QL. - Xét cho đến cùng thì QL bao giờ cũng là QL con người.
- QL là sự tác động mang tính chủ quan, nhưng chưa phải phù hợp quy luật khách quan. Với vai trò, chức năng tạo sự thống nhất ý chí trong tổ chức, định hướng sự phát triển của tổ chức là điều hoà, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của cá nhân trong tổ chức; tạo động lực, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cá nhân và tổ chức, QL đã thực sự trở thành một hoạt động không thể thiếu được của bất kì một tổ chức XH nào nhằm đạt đến sự phát triển ổn định, bền vững và có hiệu quả. QL vừa là một môn khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và XH nhân văn khác nhau như: toán học, kinh tế, thống kê, XH học, tâm lí học. vừa là một nghệ thuật.
Do vậy, đòi hỏi các nhà QL trong quá trình QL phải luôn chủ động, khéo léo, linh hoạt tổ chức, điều khiển, hướng dẫn mọi thành viên trong tổ chức của mình cùng hướng tới mục tiêu xác định, tránh được tình trạng rối ren và bất ổn của tổ chức mình, đồng thời có thể kích thích và phát huy được năng lực mọi thành viên trong tổ chức.