Chương 1 TONG QUAN 1. Giới thiệu sơ lược về cá tra 1. Phân loại Theo hệ thống phân loại, cá tra được phân loại như sau: Bộ: Siluriformes Họ: Pangasiidae Giống: Pangasianodon Loài: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) Tén tiéng Anh: Tra catfish, striped catfish Tén tiéng Viét: ca tra 1. Đặc điểm phân bố Vùng phân bố tự nhiên của loài cá tra giới hạn trong hạ lưu sông Mê kông, bao gồm: Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam, ké cả sông Chao Phraya ở Thái Lan.
Cá nhỏ thường phân bố ở khu vực hạ lưu, cá trưởng thành phân bố ở vùng trung lưu (Rainboth, 1996). Đặc điểm sinh thái Oxy hòa tan: trong tự nhiên cá tra sông được ởthủy vực nước chảy và nước tĩnh. Cá tra có cơ quan hô hấp phụ là bóng khí nên thở trực tiếp được khí trời, chịu đựng được môi trường nước thiếu oxy. Hàm hượng oxy hòa tan tối ưu cho cá là 3,0 — 6,0 mg/L (Phạm Văn Khánh, 2000).
Tiêu hao oxy và ngưỡng oxy của cá tra thấp hơn 3 lần so với cá mè trắng (Teresa và ctv, 2007). Nhiệt độ: cá tra là loài cá chịu lạnh kém vì là loài đặc trưng phân bố trong vùng nhiệt đới. Nhiệt độ tối ưu cho cá tra là 26,0 — 30,0°C (Phạm Văn Khánh, 2000). Tuy nhiên, theo Trần Thị Thanh Hiền và ctv (2009), cá tra tiêu hóa protein va năng lượng tốt nhất ở 30,0°C.
Ở nhiệt độ 15,0°C thì cường độ bắt mỗi của cá giảm nhưng cá vẫn còn sống. Khi nhiệt độ tăng lên 39,0°C thì cá có hiện tượng mất nhớt, bơi lờ đờ không bình thường (Nguyễn Tuần, 2000). Độ pH: sợ biến động pH có tác dụng rất lớn đến cường độ trao đối chất cũng như tốc độ tăng trưởng của cá. Theo Phạm Văn Khánh (2000), pH thích hợp cho cá tra là 7,0 — 8,0.
Khi pH < 5,0 thì cá có hiện tượng mat nhớt do cá tăng cường tiết nhớt trên bề mặt mang đã gây trở ngại cho quá trình trao đổi khí và các ion qua mang làm cho hoạt động của cá trở nên chậm chap, khi pH tăng lên 11,0 thì cá sẽ hoạt động lờ do có biểu hiện mắt nhớt nếu kéo dài thì cá sẽ chết. Độ mặn: cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, không sống trong nước mặn, nhưng có khả năng sống được trong các vùng nước lg. Khả năng mà cá tra có thể chịu đựng được từ 8,0 — 10,0%o (Nguyễn Duy Khoát, 2004). Đặc điểm dinh dưỡng Khi mới nở, cá tra dinh dưỡng bằng noãn hoàng.
Khi hết noãn hoàng thì cá ăn môi tươi sông, ăn các loài động vật phù du có kích thướt vừa cỡ miệng như luân trùng, trứng nước, thậm chí cá tra bột còn ăn thịt lẫn nhau trong bé ương nuôi nếu mật độ dày và cho ăn không đầy đủ. Khi phân tích thức ăn trong ruột cá tra đánh bắt ngoài tự nhiên, thành phan thức ăn được tìm thấy là nhuyễn thé 35,4%, cá 31,85%, côn trùng 18,2% và thực vật 10,7%. Trong ao nuôi, cá tra có khả năng ăn những loại thức ăn có hàm lượng protein khác nhau (Phạm Văn Khánh, 2000). Đặc điểm sinh trưởng Cá tra có tốc độ tăng trrưởng tương đối nhanh, cá còn nhỏ phát triển nhanh về chiều dai.
Cá 2 tháng tuổi đạt chiều dai 10 — 12 em, nặng 14 — 15 g/con (Nguyễn Chung, 2007). Cá có trọng lượng 0,30 — 0,40 kg/con thì tăng nhanh về chiều dài cũng như khối lượng, cá từ khoảng 2,5 kg/con trở đi mức tăng trọng nhanh hơn so với chiều dai co thé (Phạm Văn Khánh, 2000). Đặc điểm sinh sản Ca tra là loài cá di cư sinh sản, ngược dòng Mê Kông từ một vùng chưa rõ vào tháng 5 - 7 và quay lại dòng chính khi nước sông đồ về dâng ngập vào tháng 9 - 12. Ở phía Nam thác Khone, sự di cư ngược dòng cua cá tra xảy ra từ tháng 10 - 02 năm sau, cao điểm vào tháng 11 - 12.
Sự di cư này xảy ra khi nước rút và xuất hiện rải rác theo sau đó là các hoạt động di cư theo chiều ngang của cá từ các vùng ngập nước trở về dòng Mê Kông vào cuối thời kỳ mùa lũ. Ở Việt Nam, cá tra thuộc quan đàn cá hạ lưu, phân bố rộng khắp trên sông Tiền và sông Hậu. Vào mùa mưa (tháng 5 - 6) cá tra bột trôi theo dòng nước từ bãi đẻ ở đoạn giữa Kra-chê và thác Khône vào thời gian bắt đầu mùa lũ. Khi chúng đến biên giới giữa Cam-pu-chia và Việt Nam, cá sẽ dạt vào các vùng ngập nước ở đây.
Sông Tonle Sap đã chảy theo chiều ngược lại giúp cho cá bột có thể đi sâu vào vùng ngập thuộc hệ thống này. Trong tự nhiên không gặp tình trạng cá tái phát dục, chỉ trong điều kiện nuôi nhân tạo, cá tra có thể tái phát dục 1 - 2 lần trong năm. Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra có thé từ 70 — 150 ngàn trimg/kg cá cái, với kích thước trứng tương đối nhỏ. Trứng sap đẻ có đường kính trung bình 1 mm.
Trứng sau khi đẻ và hút nước có thé đạt đường kính 1,5 - 1,6 mm (Phạm Văn Khánh, 2000). Tình hình nuôi và xuất khẩu cá tra ở Việt Nam Theo Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) đạt khoảng 2,35 tỷ USD trong năm 2022 (chiếm hơn 21% tổng kim ngạch xuất khâu của ngành thủy sản Việt Nam), tổng diện tích nuôi cá tra ước đạt 5,7 nghìn ha, sản lượng đạt 1,7 triệu tấn. Hiện nay, cá tra là loài cá da trơn quan trọng bậc nhất trong nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam. Hình thức nuôi cá tra phô biến tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là nuôi ao.
Các thị trường tiêu thụ cá tra chính của Việt Nam: Mỹ, EU, Trung Quốc, Asean. Cùng với sự phát triển của nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL, nền công nghiệp sản xuất thức ăn cũng không ngừng phát triển, đáp ứng nhu cau thức ăn ngày càng cao khi nuôi ở quy mô công nghiệp. Tính đến năm 2016 cả nước có khoảng 130 nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản với sản lượng đạt 3,77 triệu tân, đáp ứng 85,6% nhu cầu trong nước, trong đó có 96 cơ sở sản xuất thức ăn cá tra. Theo VASEP - Hiệp hội Chế biến và xuất khâu thủy sản Việt Nam (2016), thống kê các doanh nghiệp nước ngoài như Cargill, Proconco, Anova, Uni-President,.
nam tỷ trọng lớn (trên 50%), phan còn lại nằm trong tay các doanh nghiệp trong nước như: Việt Thắng, Green Feed, Vĩnh Hoàn, Nam Việt,. Hợp chat NSP (non — starch polysaccharides) Thuật ngữ chat xơ được định nghĩa là lignin cộng với polysaccharide không thé tiêu hóa được bởi enzyme nội sinh đối với động vật dạ dày đơn. Do tính chất của chất xơ trong thức ăn rất khó xác định được nên chúng được thay thế bằng thuật ngữ non- starch polysaccharides (NSP). NSP trong hầu hết các loại nguyên liệu thức ăn, cùng với lignin, đại diện cho thành phan của vách tế bao (McDonald, 2002).
Trong thực vật, NSP hiện diện như cấu trúc polysaccharides trong vách tế bào thực vật và có thé liên kết hoặc thay thé polysaccharide, protein, và phenolic giống như phức hợp lignin (Glitsø và ctv, 1998). NSP không thể tiêu hóa, ảnh hưởng tiêu cực với các chất dinh dưỡng và làm giảm hiệu quả sử dụng thức ăn của vật nuôi (Fischer, 2003). Tế bào thực vat Cấu tạo Middle lamella Secondary wall Cytoplasm | Storage carbohydrates, proteins, etc. Thành phan của vách tế bào (Nguồn: www.com) NSP có thé được phân loại bằng nhiều cách khác nhau dựa trên đặc tính sinh học, ví dụ như: độ nhay, kha năng giữ nước, lên men va khả nang kết hợp phân tử hữu cơ và vô cơ (Schrama và ctv, 2005).
Các NSP bao gồm f-glucan, pentosan, arabinogalactan, galactomannan, xylan and pectin (Jackson, 2002). Trong hạt ngũ cốc có chứa B-glucan và arabinoxylan, chất này có khả năng hút giữ nước tạo nên độ nhớt ở thành ruột, làm ngăn cản phản ứng thủy phân của enzyme với cơ chất, làm giảm khả năng tiêu hóa hấp thu các chất đinh đưỡng. NSP không dé dàng được gia súc và gia cầm tiêu hóa và có kha năng tác động đến dinh dưỡng thông qua việc làm giảm năng suất vật nuôi (Jackson, 2002). Nếu trong thức ăn có nhiều hợp chất NSP sẽ làm giảm khả năng tiêu hóa của một sô dưỡng chất khác (Dương Thanh Liêm, 2008).
Non-starch polysaccharides Cellulose Non-cellulosic polymers Pectin polysaccharides Khong tan trong Arabinoxylan liên kết Axit polygalacturonic, có nước, trong kiém hỗn hợp beta-glucan, thé được thay thé bởi hoặc axit loãng mannan, galactan, arabinan, galactan va xylogucan, fructan arabinogalactan Tan một phan trong nước Tan một phan trong nước Hình 1. So đồ phân loại NSP (Choct va Kocher, 2000) Theo Vũ Duy Giang (2009), nhóm NSP được chia thành hai nhóm NSP tan trong nước va NSP không tan. - Nhóm NSP tan trong nước có khả năng giữ nước cao gấp đôi nhóm NSP không tan (1,0 g NSP tan giữ 13,5 g nước trong khi NSP không tan chi giữ 6,15 g nước). NSP tan trong nước sẽ làm tăng độ nhớt trong ruột, cản trở tế bào vách ruột hấp thu các chất dinh dưỡng.
- Nhóm NSP không tan có trong vách tế bào thực vật, cản trở các enzyme nội sinh tiếp cận với các chất dinh dưỡng như protein, tinh bột và lipid có trong tế bao chất, từ đó cũng làm giảm sự tiêu hóa, hấp thu các chất dinh dưỡng. NSP hiện diện trong thức ăn nuôi trồng thủy sản ở dạng hòa tan giúp ép viên thức ăn đẹp hơn (ví dụ: guar gum) và tích hợp như là một phần của vách tế bào thực vật (Schrama và ctv, 2005). Nguyên liệu sie NSP Cellulose ail không tan NCP tan Ba nanh 217 62 92 63 Khô dau cải 220 52 123 55 Banh dau bong vai 55T 92 103 61 Khô dau bông vải 283 90 127 66 Hat đậu Lupins 405 131 139 134 Khô dầu hướng dương 315 123 136 57 Đậu Hà Lan 180 53 76 sỹ Cỏ linh lăng 329 139 113 77 Cam mi 374 72 273 29 Khoai mi 119 20 74 25 Gluten bap 315 75 242 34 Chú thích: “Non-starch polysaccharides, ?Non-cellulosic polysaccharides. Theo Jackson (2002), các cây họ đậu có chứa ham lượng cao hemicelluloses va các NSP khác, trong bã nành có thể chứa đến 22,7% NSP trên vật chất khô.
Nghiên cứu về galactomannan có nguồn gốc từ đậu guar, có chứa hàm lượng cao galactomannan, cho thay anh huong xấu rõ rệt đối với động vật có dạ dày đơn (Jackson, 2002). B-mannan B-mannan cũng được gọi là B-galactomannan, tan trong nước, là thành phan kháng dinh dưỡng và là một thành phan chất xơ trong thức ăn. Cau trúc B-mannan là một chuỗi polysaccharide lặp đi lặp lại với các đơn vi thuộc đường B-1-4 mannose và 1-6 galactose nối tiếp nhau tạo thành mạch B-mannan, trong tự nhiên thường gặp galactose hoặc glucose gắn vào -mannan.