MỞ ĐẦU 1. Lý do chọ đề tài Những năm gần đây, ngành nuôi trồng thủy sản càng phát triển nhanh hơn trên toàn cầu, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp sản phẩm giàu protein do nhu cầu sống của con người ngày càng phát triển. ăm 2018 sản ượng nuôi trồng thủy sản của Trung Quốc đạt hơn 47 triệu tấn, chiếm 58% tổng sản ượng nuôi trồng của thế giới; tổng sản ượng của Ấn Độ là 7 triệu tấn/năm (F O 2018). Tại Việt Nam, theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản (Bộ NN – ) năm 2020, tổng sản ượng nuôi trồng thủy sản đạt 4,56 triệu tấn; tăng 1,5% so với cùng kì năm 2019.
Tuy nhiên, các vấn đề như: dịch bệnh, ô nhiễm môi trường nước, sử dụng hóa chất, dư ượng thuốc kháng sinh… đã và đang àm ảnh hưởng không nhỏ đến chất ượng sản phẩm, cũng như giá thành sản phẩm. Trong số các phương pháp tiếp cận hiện nay, công nghệ nano – như một phương pháp mới và sáng tạo – có nhiều ứng dụng và tiềm năng lớn đối với ngành thủy sản. Các hạt nano kim loại được điều chế rộng rãi như bạc ( g), vàng ( u) và đồng (Cu) với sinh học, quang học và đặc tính từ tính, trong đó hạt nano bạc ( g s) đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong ngành nuôi trồng thủy sản vì khả năng kháng khuẩn đối với vi khuẩn, virus và nấm, có tính chất ổn định và có thể kéo dài hiệu quả kháng khuẩn trong thời gian dài (Achmad Syafiuddin, 2017). Các nghiên cứu ứng dụng của AgNPs trong ngành nuôi trồng thủy sản như: cải thiện chất ượng nước, khử trùng ao nuôi trước và sau khi nuôi; ứng dụng trong kiểm soát mầm bệnh từ cá, nhuyễn thể và giáp xác (Julio Cesar Meneses Márquez, 2018); nghiên cứu phát triển vắc xin thế hệ để kháng lại vi khuẩn Listonella anguillarum ở cá chép (Kumar Sr, 2008) và hội chứng đốm trắng (WSSV) – một loại virus tấn công tôm.
Trong hệ sinh thái thủy vực, động vật nổi à oài động vật phù du, là nguồn thức ăn quan trọng của cá con và động vật giáp xác khác. húng cũng đóng một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái thủy sinh, bao gồm chất dinh 1 dưỡng và chu trình carbon. Anton-Pardo và Z. Adamek (2015) đã chứng minh tầm quan trọng của động vật phù du đối với vòng đời của cá chép trong những ao nuôi tự nhiên.
Giống như các oài cá khác, ấu trùng cá chép chủ yếu ăn động vật phù du, bắt đầu từ các sinh vật nhỏ (luân trùng) và khi chúng phát triển thì chuyển sang các sinh vật lớn hơn như: giáp xác chân chèo và cladocerans (Adamek, 2015). Động vật nổi là loài nhạy cảm nên dễ bị tác động bởi các chất tồn tại trong thủy vực. Nghiên cứu về độc sinh thái cho các oài động vật nổi trong thủy vực là cần thiết. Saba Asghari và cộng sự (2012) đã thử nghiệm độc tính bằng cách sử dụng 2 dạng của nano bạc: dạng keo và dạng bột trên loài Daphnia magna.
Kết quả thử nghiệm cho thấy sự khác biệt các loại hạt nano và ion bạc được tạo ra khác nhau tử vong phụ thuộc vào liều ượng. Đặc biệt, độc tính của bột bạc nano được phân tán bởi sonication là thấp hơn so với các hạt nano bạc dạng keo. Do đó, kết quả cho thấy rằng các phản ứng độc hại liên quan nhiều hơn đến các đặc tính hóa học và sự kết hợp của các hạt nano khác nhau (Saba Asghari & Min Chaul Moon, 2012). Trịnh Đăng ậu và cộng sự (2019) đã nghiên cứu ảnh hưởng của Potassium dichromate đến Moina micrura Kurz.
Kết quả của thử nghiệm độc học cấp tính của potassium dichromate đến loài Moina micrura cho thấy LC50 tại 3 mốc thời gian 12 giờ, 24 giờ và 48 giờ lần ượt là 0,26 mg/ , 0,15 mg/ và 0,08 mg/. Đối với thí nghiệm độc mãn tính, kết quả EC50 của K2Cr2O7 ảnh hưởng lên số ượng trứng của một con mẹ là 0,015 mg/L và số ượng con sống là 0,009 mg/l (Trịnh Đăng ậu, 2019). Để hiểu rõ hơn về nguy cơ tiềm ẩn của nano bạc trong nuôi trồng thủy sản ảnh hưởng các oài động vật nổi như thế nào, từ đó ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn trong ao nuôi, gây mất cân bằng hệ sinh thái. Vì vậy, em thực hiện đề tài “N ê ứu ả ởng của vi c sử dụng nano bạc trong nuôi trồng thủy sản tớ động vật nổ (Zoopla k o )”.
Kết quả đề tài sẽ góp phần bổ 2 sung thông tin cho nguồn dữ liệu độc tính của các chất này, phục vụ công tác đánh giá rủi ro của nano bạc đến hệ sinh thái động vật nổi. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng nano bạc trong thủy sản tới một số loài thuộc động vật nổi (Zooplankton). TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Hi n trạng và các vấ đề trong nuôi trồng thủy sản 1.
Hiện trạng nuôi trồng thủy sản Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản (Bộ & ) năm 2019 tổng sản ượng thủy sản đạt khoảng 8,15 triệu tấn, tăng 4,9% trong đó sản ượng khai thác đạt 3,77 triệu tấn, tăng 4,5%, nuôi trồng đạt 4,38 triệu tấn, tăng 5,2% so với năm 2018. ả năm 2019, diện tích nuôi tôm đạt 720 nghìn ha, sản ượng tôm nước lợ ước đạt 750 nghìn tấn bằng 98,3% so với năm 2018, trong đó tôm sú ước đạt 270.000 tấn, tôm chân trắng à đạt 480. Tổng diện tích nuôi cá tra năm 2019 ước đạt 6,6 nghìn ha; tăng 22,2% so với năm 2018; sản ượng đạt 1,42 triệu tấn, tương đương với năm 2018. ăm 2020, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản duy trì ổn định khoảng 1,3 triệu ha (diện tích nuôi mặn lợ đạt 850 nghìn ha, nuôi nước ngọt đạt 450 nghìn ha).
Tổng sản ượng thuỷ sản đạt 8,4 triệu tấn; trong đó sản ượng nuôi trồng đạt 4,56 triệu tấn; tăng 1,5%, kim ngạch xuất khẩu thủy sản ước đạt 8,4 tỷ USD. Trong đó, tôm nuôi 950.000 tấn (tôm sú đạt 267,7 nghìn tấn, tôm chân trắng 632,3 nghìn tấn, tôm khác 50.362 cơ sở sản xuất giống tôm nước lợ (1.750 cơ sở giống tôm sú và 612 cơ sở giống tôm chân trắng). Sản xuất được là 79,3 triệu con tôm giống (tôm sú 15,8 triệu con; tôm chân trắng 64,1 triệu con). Riêng khu vực ĐBS L có khoảng 120 cơ sở sản xuất giống cá tra bố mẹ, gần 4.000 ha ương dưỡng cá tra giống; sản xuất được khoảng 2 tỷ cá tra giống.
Diện tích nuôi biển 260 nghìn ha và 7,5 triệu m3 lồng; sản ượng đạt 600 nghìn tấn. rong đó nuôi cá biển 8,7 nghìn ha và 3,8 triệu m3 lồng, sản ượng 38 nghìn tấn; nhuyễn thể 54,5 nghìn ha, 375 nghìn tấn; tôm hùm 3,7 triệu m3 lồng, 2,1 nghìn tấn; rong biển 10.150 ha, 120 nghìn tấn; còn lại là cua biển và các đối tượng nuôi khác: cá nước lạnh (cá hồi, cá tầm…đạt 3.720 tấn, cao hơn 2 ần so với năm 2015 (1. Sả l ợng NTTS của Vi t Nam từ ăm 2000 - 2020 (Dựa theo số liệu từ Thống kê Thủy sản, 2020) Về hình thức nuôi, thủy sản nước ta được nuôi theo 4 hình thức khác nhau là quảng canh, quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh. Các hình thức này có sự khác nhau về sự đầu tư con giống, thức ăn và mức độ trang thiết bị khoa học kỹ thuật do đó dẫn đến sự khác biệt rõ ràng về năng suất (Bảng 1.
rong đó, thâm canh và bán thâm canh hiện nay được tập trung phát triển hơn cả nhờ năng suất cao, chất ượng sản phẩm có giá trị kinh tế cao, đồng thời dễ dàng kiểm soát dịch bệnh hơn các hình nuôi phụ thuộc tự nhiên như trước đây. Về quy trình nuôi, cơ bản gồm 4 giai đoạn: + iai đoạn 1: Chuẩn bị con giống, con giống tốt sẽ giúp cho việc nuôi đơn giản hơn, thủy sản sẽ lớn nhanh và tăng hiệu quả kinh tế. Vì thế cần đảm bảo lựa chọn nguồn giống chất ượng, nguồn giống này có thể là giống tự nhiên hay nhân tạo đều được. Bên cạnh đó cần phải chuẩn bị môi trường nuôi thủy sản tốt, bởi dù giống có tốt đến mấy nhưng nếu môi trường bẩn, không phù hợp thì chúng có thể bị chết.
heo đó cần tiến hành khử trùng, làm sạch, đảm bảo nước trong phù hợp với đặc tính thủy sản. 5 + iai đoạn 2: Quá trình chăm sóc vật nuôi. Các loại thủy sản sau khi được lựa chọn kỹ ưỡng sẽ được chuyển đến môi trường nuôi. Trong quá trình này cần phải dùng thức ăn chăn nuôi do các nhà máy sản xuất để cho thủy sản ăn.
hường xuyên kiểm tra để phát hiện bệnh dịch, thay nước nếu bị ô nhiễm. + iai đoạn 3: Thu hoạch. Khi thủy sản đã phát triển đến ngưỡng nhất định thì ta tiến hành thu hoạch. Sử dụng các kỹ thuật chuyên nghiệp để thu hoạch nhanh nhất.
+ iai đoạn 4: Xuất bán, dọn dẹp ao nuôi, khử trùng để chuẩn bị cho ượt nuôi mới. So sánh s khác bi t giữa các hình thức nuôi Hình thức nuôi Nguồn Nguồn Mức độ ăng suất giống thức ăn trang bị (tấn/ha/vụ) KHKT Cá Tôm Quảng canh Tự nhiên Tự nhiên Không <1 < 0,5 Quảng canh cải Có bổ sung Có sử dụng Ít 1–3 0,5 – 2 tiến giống nhân thức ăn bổ tạo sung Bán thâm canh Chủ yếu Chủ yếu Trung bình 3 – 15 2–4 giống nhân dùng thức tạo ăn chế biến Thâm canh Hoàn toàn Thức ăn Nhiều >15 >4 nhân tạo công nghiệp 1. Các vấ đề trong nuôi trồng thủy sản a/ Tình hình dịch b nh trong nuôi trồng thủy sản Dịch bệnh là một trong các nguyên nhân quan trọng khiến chất ượng sản phẩm của nuôi trồng thủy sản bị đánh giá thấp, gây cho người dân thiệt hạn nặng nề. Trên thế giới các vấn đề dịch bệnh đã được tập trung nghiên cứu 6 từ những năm cuối thế kỷ 20.
Tại các trang trại nuôi cá hồi Đại ây Dương ở Scotland, các vấn đề nghiêm trọng đã được gây ra bởi sự xuất hiện của rận biển (Pike và Wadsworth, 2000), bệnh nhọt (Austin và Austin, 1993), hoại tử tuyến tụy nhiễm trùng (IPN) (Hill, 1982) và nhiễm trùng thiếu máu cá hồi (ISA) (Anon, 2000). Các loại ký sinh trùng và bệnh khác đã xuất hiện ở các loài cá hồi, chẳng hạn như bệnh amip mang (Nowak, 2001), Kudoa thyrsites (St-Hilaire, 1998), Gyrodactylus salaris (Johnsen và Jensen, 1991) và Parvicapsula (Sterud, 2003). Đã có những nghiên cứu về bệnh trên cá và đặc biệt là cá tầm gây ra bởi virus Iridoviruses. Virus Iridoviruses đầu tiên liên quan đến các đợt bùng phát bệnh tiêu chảy ở cá tầm là Iridovirus cá tầm trắng (WSIV) (Hedrick R.