Khóa luận tốt nghiệp: Ảnh hưởng của nano bạc trong nuôi trồng thủy sản đến động vật nổi zooplankton

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tác động của nano bạc trong nuôi trồng thủy sản lên động vật nổi zooplankton, đánh giá hiệu quả và rủi ro tiềm ẩn.

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

91
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu

1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Hiện trạng và các vấn đề trong nuôi trồng thủy sản

1.1.1. Hiện trạng nuôi trồng thủy sản

1.1.2. Các vấn đề trong nuôi trồng thủy sản

1.1.2.1. Tình hình dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản
1.1.2.2. Ô nhiễm môi trường trong nuôi trồng thủy sản

1.2. Tổng quan về thực trạng sử dụng nano bạc trong NTTS

1.2.1. Tổng quan về nano bạc

1.2.2. Ứng dụng của nano bạc trong nuôi trồng thủy sản

1.3. Zooplankton và vai trò của loài sinh vật trong thủy vực

1.3.1. Tổng quan chung về Zooplankton

1.3.2. Vai trò của zooplankton trong hệ sinh thái thủy sinh

1.4. Tổng quan về nghiên cứu độc tính của vật liệu nano

2. ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Vật liệu nghiên cứu

2.4.2. Bố trí thí nghiệm

2.4.3. Phương pháp đánh giá độc tính

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đánh giá ảnh hưởng của nồng độ nano bạc tới biểu hiện của một số loài sinh vật thử nghiệm

3.2. Ảnh hưởng của kích thước nano bạc đến tỉ lệ tử vong của các sinh vật thử nghiệm

3.2.1. Ảnh hưởng của kích thước nano bạc đến tỷ lệ tử vong của Moina macrocopa

3.2.2. Ảnh hưởng của nồng độ của các kích thước đối với tỷ lệ tử vong của Moina macrocopa

3.2.3. Ảnh hưởng của kích thước nano bạc tới tỉ lệ tử vong của Brachionus plicatilis

3.2.4. Ảnh hưởng của nồng độ các kích thước đối với tỷ lệ tử vong của Brachionus plicatilis

3.2.5. So sánh tỷ lệ tử vong của hai loài sinh vật thử nghiệm khi tiếp xúc với nano bạc

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nano bạc trong nuôi trồng thủy sản

Nghiên cứu về nano bạc trong nuôi trồng thủy sản đã trở thành một lĩnh vực quan trọng, đặc biệt với khả năng kháng khuẩn của nó. Công nghệ nano cho phép tạo ra các hạt bạc với kích thước nhỏ, giúp tăng cường hiệu quả diệt khuẩn trong môi trường nước. Theo Achmad Syafiuddin (2017), nano bạc có thể được sử dụng để khử trùng ao nuôi và cải thiện chất lượng nước. Tuy nhiên, việc sử dụng nano bạc cũng đặt ra nhiều câu hỏi về tác động sinh thái của nó đối với các loài thủy sinh, đặc biệt là zooplankton. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng zooplankton đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn thủy sinh và sự tồn tại của chúng có thể bị ảnh hưởng bởi nồng độ nano bạc trong nước. Do đó, việc đánh giá tác động của nano bạc đến zooplankton là cần thiết để đảm bảo sự bền vững của hệ sinh thái thủy vực.

1.1. Ứng dụng của nano bạc trong nuôi trồng thủy sản

Ứng dụng của nano bạc trong nuôi trồng thủy sản rất đa dạng. Nó không chỉ được sử dụng để khử trùng mà còn có thể phối trộn vào thức ăn cho thủy sản nhằm tăng cường sức đề kháng. Theo nghiên cứu của Julio Cesar Meneses Márquez (2018), nano bạc có thể giúp kiểm soát mầm bệnh trong các loài cá và nhuyễn thể. Tuy nhiên, việc sử dụng nano bạc cũng cần được kiểm soát chặt chẽ để tránh gây ra những tác động tiêu cực đến sinh vật thủy sinh. Các nghiên cứu về độc tính của nano bạc cho thấy rằng nồng độ cao có thể gây ra tỷ lệ tử vong cao ở zooplankton, điều này có thể ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái thủy vực.

II. Ảnh hưởng của nano bạc đến zooplankton

Nghiên cứu về ảnh hưởng của nano bạc đến zooplankton đã chỉ ra rằng các loài động vật nổi như Moina macrocopaBrachionus plicatilis rất nhạy cảm với sự hiện diện của nano bạc. Kết quả thí nghiệm cho thấy rằng tỷ lệ tử vong của Moina macrocopa tăng lên đáng kể khi nồng độ nano bạc vượt quá 1ppm. Theo nghiên cứu, giá trị LC50 của Moina macrocopa với nano bạc 50nm là 0,17ppm, cho thấy rằng nồng độ này có thể gây ra tác động nghiêm trọng đến sự sống còn của loài này. Điều này có thể dẫn đến sự suy giảm số lượng zooplankton, ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn và cân bằng sinh thái trong môi trường nước.

2.1. Tác động sinh học của nano bạc

Tác động sinh học của nano bạc đến zooplankton không chỉ dừng lại ở tỷ lệ tử vong. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng nano bạc có thể gây ra các biểu hiện bất thường trong hành vi và sinh lý của zooplankton. Các loài như Brachionus plicatilis cho thấy sự thay đổi trong tỷ lệ sinh sản khi tiếp xúc với nano bạc. Điều này có thể dẫn đến sự giảm sút trong quần thể zooplankton, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và phát triển của chúng. Sự thay đổi này không chỉ ảnh hưởng đến zooplankton mà còn có thể tác động đến các loài ăn chúng, tạo ra một chuỗi phản ứng trong hệ sinh thái thủy vực.

III. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu về ảnh hưởng của nano bạc trong nuôi trồng thủy sản đến zooplankton đã chỉ ra rằng việc sử dụng nano bạc cần được xem xét cẩn thận. Mặc dù nano bạc có nhiều ứng dụng tiềm năng trong việc cải thiện chất lượng nước và kiểm soát mầm bệnh, nhưng tác động của nó đến sinh vật thủy sinh không thể bị bỏ qua. Cần có các nghiên cứu sâu hơn để đánh giá đầy đủ tác động của nano bạc đến hệ sinh thái thủy vực. Các biện pháp quản lý và quy định về việc sử dụng nano bạc trong nuôi trồng thủy sản cũng cần được thiết lập để bảo vệ zooplankton và duy trì sự cân bằng sinh thái.

3.1. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Đề xuất nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc xác định ngưỡng an toàn của nano bạc đối với các loài zooplankton khác nhau. Ngoài ra, cần nghiên cứu về các biện pháp thay thế cho nano bạc trong nuôi trồng thủy sản, nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái. Việc phát triển các công nghệ mới và an toàn hơn trong nuôi trồng thủy sản sẽ góp phần bảo vệ môi trường và duy trì sự bền vững của ngành này.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọ đề tài Những năm gần đây, ngành nuôi trồng thủy sản càng phát triển nhanh hơn trên toàn cầu, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp sản phẩm giàu protein do nhu cầu sống của con người ngày càng phát triển. ăm 2018 sản ượng nuôi trồng thủy sản của Trung Quốc đạt hơn 47 triệu tấn, chiếm 58% tổng sản ượng nuôi trồng của thế giới; tổng sản ượng của Ấn Độ là 7 triệu tấn/năm (F O 2018). Tại Việt Nam, theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản (Bộ NN – ) năm 2020, tổng sản ượng nuôi trồng thủy sản đạt 4,56 triệu tấn; tăng 1,5% so với cùng kì năm 2019.

Tuy nhiên, các vấn đề như: dịch bệnh, ô nhiễm môi trường nước, sử dụng hóa chất, dư ượng thuốc kháng sinh… đã và đang àm ảnh hưởng không nhỏ đến chất ượng sản phẩm, cũng như giá thành sản phẩm. Trong số các phương pháp tiếp cận hiện nay, công nghệ nano – như một phương pháp mới và sáng tạo – có nhiều ứng dụng và tiềm năng lớn đối với ngành thủy sản. Các hạt nano kim loại được điều chế rộng rãi như bạc ( g), vàng ( u) và đồng (Cu) với sinh học, quang học và đặc tính từ tính, trong đó hạt nano bạc ( g s) đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong ngành nuôi trồng thủy sản vì khả năng kháng khuẩn đối với vi khuẩn, virus và nấm, có tính chất ổn định và có thể kéo dài hiệu quả kháng khuẩn trong thời gian dài (Achmad Syafiuddin, 2017). Các nghiên cứu ứng dụng của AgNPs trong ngành nuôi trồng thủy sản như: cải thiện chất ượng nước, khử trùng ao nuôi trước và sau khi nuôi; ứng dụng trong kiểm soát mầm bệnh từ cá, nhuyễn thể và giáp xác (Julio Cesar Meneses Márquez, 2018); nghiên cứu phát triển vắc xin thế hệ để kháng lại vi khuẩn Listonella anguillarum ở cá chép (Kumar Sr, 2008) và hội chứng đốm trắng (WSSV) – một loại virus tấn công tôm.

Trong hệ sinh thái thủy vực, động vật nổi à oài động vật phù du, là nguồn thức ăn quan trọng của cá con và động vật giáp xác khác. húng cũng đóng một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái thủy sinh, bao gồm chất dinh 1 dưỡng và chu trình carbon. Anton-Pardo và Z. Adamek (2015) đã chứng minh tầm quan trọng của động vật phù du đối với vòng đời của cá chép trong những ao nuôi tự nhiên.

Giống như các oài cá khác, ấu trùng cá chép chủ yếu ăn động vật phù du, bắt đầu từ các sinh vật nhỏ (luân trùng) và khi chúng phát triển thì chuyển sang các sinh vật lớn hơn như: giáp xác chân chèo và cladocerans (Adamek, 2015). Động vật nổi là loài nhạy cảm nên dễ bị tác động bởi các chất tồn tại trong thủy vực. Nghiên cứu về độc sinh thái cho các oài động vật nổi trong thủy vực là cần thiết. Saba Asghari và cộng sự (2012) đã thử nghiệm độc tính bằng cách sử dụng 2 dạng của nano bạc: dạng keo và dạng bột trên loài Daphnia magna.

Kết quả thử nghiệm cho thấy sự khác biệt các loại hạt nano và ion bạc được tạo ra khác nhau tử vong phụ thuộc vào liều ượng. Đặc biệt, độc tính của bột bạc nano được phân tán bởi sonication là thấp hơn so với các hạt nano bạc dạng keo. Do đó, kết quả cho thấy rằng các phản ứng độc hại liên quan nhiều hơn đến các đặc tính hóa học và sự kết hợp của các hạt nano khác nhau (Saba Asghari & Min Chaul Moon, 2012). Trịnh Đăng ậu và cộng sự (2019) đã nghiên cứu ảnh hưởng của Potassium dichromate đến Moina micrura Kurz.

Kết quả của thử nghiệm độc học cấp tính của potassium dichromate đến loài Moina micrura cho thấy LC50 tại 3 mốc thời gian 12 giờ, 24 giờ và 48 giờ lần ượt là 0,26 mg/ , 0,15 mg/ và 0,08 mg/. Đối với thí nghiệm độc mãn tính, kết quả EC50 của K2Cr2O7 ảnh hưởng lên số ượng trứng của một con mẹ là 0,015 mg/L và số ượng con sống là 0,009 mg/l (Trịnh Đăng ậu, 2019). Để hiểu rõ hơn về nguy cơ tiềm ẩn của nano bạc trong nuôi trồng thủy sản ảnh hưởng các oài động vật nổi như thế nào, từ đó ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn trong ao nuôi, gây mất cân bằng hệ sinh thái. Vì vậy, em thực hiện đề tài “N ê ứu ả ởng của vi c sử dụng nano bạc trong nuôi trồng thủy sản tớ động vật nổ (Zoopla k o )”.

Kết quả đề tài sẽ góp phần bổ 2 sung thông tin cho nguồn dữ liệu độc tính của các chất này, phục vụ công tác đánh giá rủi ro của nano bạc đến hệ sinh thái động vật nổi. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng nano bạc trong thủy sản tới một số loài thuộc động vật nổi (Zooplankton). TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Hi n trạng và các vấ đề trong nuôi trồng thủy sản 1.

Hiện trạng nuôi trồng thủy sản Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản (Bộ & ) năm 2019 tổng sản ượng thủy sản đạt khoảng 8,15 triệu tấn, tăng 4,9% trong đó sản ượng khai thác đạt 3,77 triệu tấn, tăng 4,5%, nuôi trồng đạt 4,38 triệu tấn, tăng 5,2% so với năm 2018. ả năm 2019, diện tích nuôi tôm đạt 720 nghìn ha, sản ượng tôm nước lợ ước đạt 750 nghìn tấn bằng 98,3% so với năm 2018, trong đó tôm sú ước đạt 270.000 tấn, tôm chân trắng à đạt 480. Tổng diện tích nuôi cá tra năm 2019 ước đạt 6,6 nghìn ha; tăng 22,2% so với năm 2018; sản ượng đạt 1,42 triệu tấn, tương đương với năm 2018. ăm 2020, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản duy trì ổn định khoảng 1,3 triệu ha (diện tích nuôi mặn lợ đạt 850 nghìn ha, nuôi nước ngọt đạt 450 nghìn ha).

Tổng sản ượng thuỷ sản đạt 8,4 triệu tấn; trong đó sản ượng nuôi trồng đạt 4,56 triệu tấn; tăng 1,5%, kim ngạch xuất khẩu thủy sản ước đạt 8,4 tỷ USD. Trong đó, tôm nuôi 950.000 tấn (tôm sú đạt 267,7 nghìn tấn, tôm chân trắng 632,3 nghìn tấn, tôm khác 50.362 cơ sở sản xuất giống tôm nước lợ (1.750 cơ sở giống tôm sú và 612 cơ sở giống tôm chân trắng). Sản xuất được là 79,3 triệu con tôm giống (tôm sú 15,8 triệu con; tôm chân trắng 64,1 triệu con). Riêng khu vực ĐBS L có khoảng 120 cơ sở sản xuất giống cá tra bố mẹ, gần 4.000 ha ương dưỡng cá tra giống; sản xuất được khoảng 2 tỷ cá tra giống.

Diện tích nuôi biển 260 nghìn ha và 7,5 triệu m3 lồng; sản ượng đạt 600 nghìn tấn. rong đó nuôi cá biển 8,7 nghìn ha và 3,8 triệu m3 lồng, sản ượng 38 nghìn tấn; nhuyễn thể 54,5 nghìn ha, 375 nghìn tấn; tôm hùm 3,7 triệu m3 lồng, 2,1 nghìn tấn; rong biển 10.150 ha, 120 nghìn tấn; còn lại là cua biển và các đối tượng nuôi khác: cá nước lạnh (cá hồi, cá tầm…đạt 3.720 tấn, cao hơn 2 ần so với năm 2015 (1. Sả l ợng NTTS của Vi t Nam từ ăm 2000 - 2020 (Dựa theo số liệu từ Thống kê Thủy sản, 2020) Về hình thức nuôi, thủy sản nước ta được nuôi theo 4 hình thức khác nhau là quảng canh, quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh. Các hình thức này có sự khác nhau về sự đầu tư con giống, thức ăn và mức độ trang thiết bị khoa học kỹ thuật do đó dẫn đến sự khác biệt rõ ràng về năng suất (Bảng 1.

rong đó, thâm canh và bán thâm canh hiện nay được tập trung phát triển hơn cả nhờ năng suất cao, chất ượng sản phẩm có giá trị kinh tế cao, đồng thời dễ dàng kiểm soát dịch bệnh hơn các hình nuôi phụ thuộc tự nhiên như trước đây. Về quy trình nuôi, cơ bản gồm 4 giai đoạn: + iai đoạn 1: Chuẩn bị con giống, con giống tốt sẽ giúp cho việc nuôi đơn giản hơn, thủy sản sẽ lớn nhanh và tăng hiệu quả kinh tế. Vì thế cần đảm bảo lựa chọn nguồn giống chất ượng, nguồn giống này có thể là giống tự nhiên hay nhân tạo đều được. Bên cạnh đó cần phải chuẩn bị môi trường nuôi thủy sản tốt, bởi dù giống có tốt đến mấy nhưng nếu môi trường bẩn, không phù hợp thì chúng có thể bị chết.

heo đó cần tiến hành khử trùng, làm sạch, đảm bảo nước trong phù hợp với đặc tính thủy sản. 5 + iai đoạn 2: Quá trình chăm sóc vật nuôi. Các loại thủy sản sau khi được lựa chọn kỹ ưỡng sẽ được chuyển đến môi trường nuôi. Trong quá trình này cần phải dùng thức ăn chăn nuôi do các nhà máy sản xuất để cho thủy sản ăn.

hường xuyên kiểm tra để phát hiện bệnh dịch, thay nước nếu bị ô nhiễm. + iai đoạn 3: Thu hoạch. Khi thủy sản đã phát triển đến ngưỡng nhất định thì ta tiến hành thu hoạch. Sử dụng các kỹ thuật chuyên nghiệp để thu hoạch nhanh nhất.

+ iai đoạn 4: Xuất bán, dọn dẹp ao nuôi, khử trùng để chuẩn bị cho ượt nuôi mới. So sánh s khác bi t giữa các hình thức nuôi Hình thức nuôi Nguồn Nguồn Mức độ ăng suất giống thức ăn trang bị (tấn/ha/vụ) KHKT Cá Tôm Quảng canh Tự nhiên Tự nhiên Không <1 < 0,5 Quảng canh cải Có bổ sung Có sử dụng Ít 1–3 0,5 – 2 tiến giống nhân thức ăn bổ tạo sung Bán thâm canh Chủ yếu Chủ yếu Trung bình 3 – 15 2–4 giống nhân dùng thức tạo ăn chế biến Thâm canh Hoàn toàn Thức ăn Nhiều >15 >4 nhân tạo công nghiệp 1. Các vấ đề trong nuôi trồng thủy sản a/ Tình hình dịch b nh trong nuôi trồng thủy sản Dịch bệnh là một trong các nguyên nhân quan trọng khiến chất ượng sản phẩm của nuôi trồng thủy sản bị đánh giá thấp, gây cho người dân thiệt hạn nặng nề. Trên thế giới các vấn đề dịch bệnh đã được tập trung nghiên cứu 6 từ những năm cuối thế kỷ 20.

Tại các trang trại nuôi cá hồi Đại ây Dương ở Scotland, các vấn đề nghiêm trọng đã được gây ra bởi sự xuất hiện của rận biển (Pike và Wadsworth, 2000), bệnh nhọt (Austin và Austin, 1993), hoại tử tuyến tụy nhiễm trùng (IPN) (Hill, 1982) và nhiễm trùng thiếu máu cá hồi (ISA) (Anon, 2000). Các loại ký sinh trùng và bệnh khác đã xuất hiện ở các loài cá hồi, chẳng hạn như bệnh amip mang (Nowak, 2001), Kudoa thyrsites (St-Hilaire, 1998), Gyrodactylus salaris (Johnsen và Jensen, 1991) và Parvicapsula (Sterud, 2003). Đã có những nghiên cứu về bệnh trên cá và đặc biệt là cá tầm gây ra bởi virus Iridoviruses. Virus Iridoviruses đầu tiên liên quan đến các đợt bùng phát bệnh tiêu chảy ở cá tầm là Iridovirus cá tầm trắng (WSIV) (Hedrick R.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu ảnh hưởng của nano bạc trong nuôi trồng thủy sản lên zooplankton là một tài liệu chuyên sâu khám phá tác động của nano bạc đến quần thể zooplankton trong môi trường nuôi trồng thủy sản. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết quan trọng về cách nano bạc có thể ảnh hưởng đến hệ sinh thái thủy sinh, từ đó giúp các nhà nghiên cứu và người nuôi trồng thủy sản đưa ra các quyết định khoa học và bền vững hơn. Độc giả sẽ nhận được thông tin chi tiết về cơ chế tác động, lợi ích tiềm năng, cũng như những rủi ro cần lưu ý khi sử dụng nano bạc trong thực tiễn.

Để mở rộng kiến thức về ứng dụng nano bạc trong nông nghiệp và thủy sản, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác động của nano bạc và nano sắt lên chất lượng cây giống in vitro, hoặc Luận văn thạc sĩ nghiên cứu chế tạo hạt nano vi lượng làm phân bón lá. Nếu quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến thủy sản, Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá ngạnh cũng là một tài liệu đáng đọc. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về ứng dụng công nghệ nano trong nông nghiệp và thủy sản.