Chương 1: Giới thiệu. Trong chương này, tác giả trình bày lý do chọn đề tài, các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu đề tài. Chương 2: Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây. Trong chương này, nghiên cứu trình bày khung lý thuyết liên quan đến nắm giữ tiền mặt và các bằng chứng thực nghiệm trong các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của dòng tiền đến sự thay đổi trong lượng tiền mặt được các công ty nắm giữ trong điều kiện hạn chế tài chính, thu nhập bất ổn và chi phí đại diện.
Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, tác giả trình bày dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, các giả thuyết kỳ vọng, mô tả biến và đưa ra phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Trong chương này, tác giả trình bày kết quả kiểm định ảnh hưởng của dòng tiền đến sự thay đổi trong lượng tiền mặt được nắm giữ LV thạc sĩ Kinh tế của các công ty Việt Nam trong mẫu.
Tiếp theo, thông qua phương pháp Bayesian, tác giả trình bày kết quả kiểm định ảnh hưởng của dòng tiền đến sự thay đổi trong lượng tiền mặt được nắm giữ của từng công ty. Cuối cùng, tác giả sẽ phân tích tác động của hạn chế tài chính, thu nhập bất ổn và chi phí đại diện đến sự thay đổi trong lượng tiền mặt được nắm giữ của các công ty Việt Nam dưới ảnh hưởng của dòng tiền. Chương 5: Kết luận. Trong chương này, tác giả tổng kết các vấn đề nghiên cứu, trình bày các hạn chế của bài nghiên cứu và đưa ra hướng nghiên cứu mở rộng cho đề tài.
KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Khung lý thuyết về nắm giữ tiền 2. Lý thuyết đánh đổi Lý thuyết đánh đổi về lượng tiền mặt được nắm giữ của các công ty đưa ra ý tưởng rằng, các công ty có thể tìm thấy một mức tiền nắm giữ tối ưu bằng cách đánh đổi giữa lợi ích và chi phí của việc nắm giữ tiền mặt. Các công ty phải đối mặt với sự giới hạn trong nguồn vốn nội bộ sẽ cân bằng lợi ích biên và chi chí biên của việc nắm giữ tiền.
Nắm giữ tiền mặt giúp các công ty giảm được chi phí giao dịch khi chuyển đổi những tài sản ít thanh khoản hơn thành tiền mặt để phục vụ cho các giao dịch của mình. Nắm giữ nhiều tiền sẽ giúp doanh nghiệp gia tăng được tính thanh khoản, gia tăng tính linh hoạt tài chính, dễ dàng thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng với các chủ nợ, thanh toán được tiền mua hàng cho nhà cung cấp, LV thạc sĩ Kinh tế đáp ứng được các khoản chi phí để duy trì hoạt động, thực hiện các dự án đầu tư sinh lời, đáp ứng được các nhu cầu cần thiết trong ngắn hạn và đề phòng trường hợp doanh nghiệp gặp phải những tình huống khẩn cấp không lường trước được, ngoài dự tính trong tương lai. Hơn nữa, những công ty nắm giữ nhiều tiền mặt, tính thanh khoản và khả năng thanh toán sẽ tốt hơn nên khả năng huy động nợ với chi phí sử dụng vốn sẽ thấp hơn, những công ty này còn dễ nắm bắt được cơ hội đầu tư tốt dẫn đến giá trị doanh nghiệp cao hơn. Có thể khái quát rằng những lợi ích của việc nắm giữ tiền xuất phát từ động cơ giao dịch và động cơ phòng ngừa.
Động cơ giao dịch: Động cơ này được đưa ra bởi Keynes (1936). Theo đó, các công ty nắm giữ tiền để tối thiểu hóa chi phí giao dịch. Trong thị trường vốn hoàn hảo, động cơ giao dịch không tồn tại vì công ty có thể tiếp cận với các nguồn vốn bất cứ lúc nào mà không tốn thêm chi phí. Chính vì vậy, các công ty không cần giữ tiền vì động cơ này.
Nhưng trong một thị trường vốn không hoàn hảo, tất cả các giao dịch đều phát sinh một khoản chi phí nhất định gọi là chi phí giao dịch như chi phí tìm kiếm thông tin, chi phí thương lượng, chi phí giám sát, hoa hồng,… Do đó, 6 các công ty nắm giữ tiền để tối thiểu hóa chi phí giao dịch, tạo ra tấm đệm khi doanh nghiệp thiếu tiền và hạn chế được nguy cơ mất cơ hội đầu tư khi chi phí giao dịch cao. Động cơ phòng ngừa: lý do thứ hai mà công ty nắm giữ tiền là để giải quyết các vấn đề liên quan đến các cú sốc bất lợi có thể xảy ra. Động cơ này được đưa ra bởi Keynes (1963) và được gọi là động cơ phòng ngừa của việc nắm giữ tiền mặt. Khi nguồn tài trợ bên ngoài có chi phí sử dụng cao, việc nắm giữ tiền sẽ giúp công ty không bỏ lỡ các dự án tốt trong tương lai.
Các công ty không muốn đánh mất các cơ hội đầu tư tốt chỉ vì lý do không đủ nguồn tài trợ hoặc chi phí quá cao. Trong một nền kinh tế không ổn định, các công ty nắm giữ nhiều tiền để đảm bảo có đủ khả năng thanh toán khi cần thiết hoặc khi rủi ro xảy ra. Từ đó, cho thấy những hạn chế về khả năng tiếp cận vốn, bất ổn trong dòng tiền của công ty là những nguyên nhân chính dẫn đến nhu cầu giữ tiền để phòng ngừa rủi ro cho công ty. Theo thuyết đánh đổi, hai động cơ giao dịch và động cơ phòng ngừa là nguyên nhân LV thạc sĩ Kinh tế chính khiến các công ty nắm giữ tiền.
Bên cạnh những lợi ích như vậy, giữ tiền bao giờ cũng mất chi phí. Chi phí biên của việc giữ tiền tăng khi xét tới chi phí cơ hội, các công ty phải từ bỏ các cơ hội đầu tư hiện tại để tăng lượng tiền mặt được nắm giữ. Lý thuyết dòng tiền tự do cho rằng, nắm giữ tiền mặt quá nhiều đi kèm với thông tin bất cân xứng cao hơn sẽ tạo ra các vấn đề về rủi ro đạo đức. Giữ tiền trong công ty quá nhiều dễ nảy sinh chi phí đại diện, làm sụt giảm giá trị công ty và nếu các công ty không có những chính sách quản trị chặt chẽ có thể sẽ làm phung phí dòng tiền tự do.
Nếu một công ty có trình độ quản trị yếu kém thì giá trị của lượng tiền vượt trội sẽ sụt giảm đáng kể. Vì vậy, các công ty có trình độ quản trị kém sử dụng lượng tiền mặt vượt trội không hiệu quả và đầu tư ít có lợi nhuận hơn so với các công ty có trình độ quản trị tiền mặt tốt. Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết trật tự phân hạng cũng là một trong những cơ sở xem xét vấn đề nắm giữ tiền mặt của các công ty. Lý thuyết trật tự phân hạng được phát triển bởi Stewart 7 Myers và Nicolas Majluf (1984) với giả thuyết, ban quản trị công ty luôn hiểu biết về hoạt động tương lai của công ty nhiều hơn các nhà đầu tư bên ngoài (bất cân xứng thông tin).
Các nhà quản trị công ty luôn hiểu rõ hơn các nhà đầu tư bên ngoài về tình hình kinh doanh cũng như khả năng sinh lợi từ các dự án trong tương lai. Do đó, để tài trợ cho các dự án có triển vọng, đem lại mức sinh lợi cao, cách tốt nhất là dùng nguồn tài trợ sẵn có từ lợi nhuận giữ lại. Hơn nữa, việc sử dụng lợi nhuận giữ lại được ưu tiên cũng vì thời gian huy động ngắn và chi phí sử dụng vốn thấp. Bên cạnh đó, các chi phí liên quan để thực hiện hoạt động phát hành cổ phần mới khá lớn khiến các nhà quản trị luôn ưu tiên sử dụng nguồn lợi nhuận giữ lại.
Trong trường hợp nguồn tài trợ này không đủ thì nguồn vốn vay sẽ được lựa chọn để không phải chia sẻ lợi nhuận với các cổ đông mới. Nhà quản trị chỉ xem xét sử dụng nguồn tài trợ từ vốn cổ phần mới khi cổ phiếu của công ty đang được định giá cao hơn giá trị thực trên thị trường. Như vậy, theo lý thuyết này, nguồn tài trợ nội bộ bằng tiền mặt sẽ được ưu tiên sử dụng đầu tiên, sau đó là nợ và cuối cùng là vốn cổ LV thạc sĩ Kinh tế phần phát hành mới. Khi khoảng cách bất cân xứng thông tin giữa người huy động và người tài trợ nhiều, doanh nghiệp sẽ sử dụng những tài sản thanh khoản thay vì sử dụng nợ và vốn cổ phần.
Lý thuyết đại diện Ngoài hai lý thuyết trên lý giải cho việc nắm giữ tiền của các công ty, quyết định nắm giữ tiền của công ty còn do vấn đề đại diện được nhắc trong lý thuyết đại diện của dòng tiền tự do trong nghiên cứu của Jensen (1986). Theo đó, Jensen (1986) giải thích rằng, các nhà quản lý có động cơ nắm giữ tiền mặt nhằm tăng lượng tài sản dưới sự kiểm soát của mình để thực hiện quyết định đầu tư của công ty. Với lượng tiền mặt này nhà quản lý có thể thực hiện đầu tư và hạn chế việc sử dụng nguồn tài trợ bên ngoài, hạn chế sự giám sát của các chủ nợ. Do đó, các nhà quản lý thích nắm giữ tiền nhiều hơn nhu cầu cần thiết cho các hoạt động giao dịch, phòng ngừa và đầu tư.
Tuy nhiên, nắm giữ tiền luôn phát sinh chi phí, một trong số đó là chi phí đại diện. Và khi doanh nghiệp nắm giữ quá nhiều tiền thì vấn đề đại diện 8 cũng trở nên trầm trọng hơn. Lý thuyết về đại diện cho rằng, cổ đông và người quản lý công ty đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho các cổ đông và công ty. Người quản lý công ty có thể có xu hướng tư lợi, không đủ siêng năng và tìm kiếm các lợi ích cá nhân cho mình chứ không phải cho công ty.
Các đặc tính tự nhiên của quan hệ đại diện dẫn đến giả thuyết rằng, các cổ đông phải thường xuyên giám sát hoạt động của người quản lý công ty nhằm đảm bảo lợi ích của mình. Lý thuyết đại diện nhấn mạnh rằng, các cổ đông cần phải sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty, bằng cách đưa ra những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản lý, thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty.