Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về cây Moringa oleifera 1. Phân loại và đặc điểm sinh thái của cây thức ăn Moringa oleifera: Cây Moringa oleifera Lam (Chùm ngây) thuộc ngành ngọc lan Magnoliophyta, lớp ngọc lan Magnoliopsida, bộ Chùm ngây Moringales, họ Chùm ngây Moringaceae, chi Chùm ngây Moringa (Foidl, 2001) [41]. Moringa oleifera là giống cây có xuất xứ từ vùng Nam Á, có tốc độ sinh trưởng nhanh và là cây trồng quan trọng ở nhiều nước như: Ấn Độ, Ethiopia, Philippines hiện đang phát triển tại một số nơi thuộc châu Phi, châu Á nhiệt đới, châu Mỹ latinh, vùng Caribean, Florida và quần đảo thuộc Thái Bình Dương.
(Fahey, 2005) [40] cây mọc hoang và được trồng, khai thác, sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới do có giá trị kinh tế cao. Moringa oleiferathích hợp và phát triển tốt nhất ở nơi có độ cao dưới 600m, chịu hạn, sinh trưởng tốt ở những nơi có lượng mưa hàng năm từ 250 – 1. Tuy nhiên ở những nơi có độ cao 1. oleifera vẫn phát triển bình thường (Bennett và cs, 2003) [38].
Nhiệt độ môi trường là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và phân bố cây M. oleifera; cây sinh trưởng, phát triển tốt ở nhiệt độ từ25 – 350C; tuy nhiên cây vẫn tồn tại được trong một khoảng thời gian khi nhiệt độ môi trường cao tới 48oC.Chất lượng, năng suất và thành phần hóa học của lá cây M. oleifera chịu ảnh hưởng rất lớn củasự chênh lệch nhiệt độ giữa các mùa trong năm. Moringa oleifera trồng ở nơi đất xấu cũng mọc được, chịu được hạn, ưa nắng, ít bị sâu bệnh.
Tuy nhiên, nóưa đất có khả năng thoát nước hoàn toàn, thích nghi tốt nhất tại những vùng đất mùn pha cát, đất nhiều cát; những vùng đất thoát nước kém cây vẫn có khả năng sinh trưởng, phát triển nhưng cây không cao, thân nhỏ. Cây không chịu được ngập úng, ở những vùng đất ngập 4 úng thường xuyên, đất không được thoát nước, cây dễ chết.Độ pHkcl thích hợp nhất đối với cây M. oleifera từ 5 đến 9.2 Đặc điểm sinh vật Moringa oleifera Lam là cây thân gỗ, thân hình trụ, cao từ 5 đến 10m, phân nhiều nhánh.Thân còn non màu xanh và có lông, thân cây già có màu xám và nốt sần, không có gai. Lá dài 30 – 60mm, lá kép hình lông chim 3 lần lẻ, lá có màu xanh thẫm, mọc cách nhau, lá phụ bậc 1 có từ 5 – 7 cặp lá, lá phụ bậc 2 có từ 4 – 6 cặp lá, lá chét dài 12 – 20 mm hình trứng, mọc đối nhau, cuống lá có chiều dài khoảng18 – 25 cm.
Moringa oleifera thường ra hoa ngay trong năm đầu sau khi trồng khoảng 6 tháng. Hoa Moringa oleifera có mầu trắng kem, giống hoa đậu, có mùi thơm cuống dài 1-2cm, có lông tơ. Cụm hoa dạng chùm sim mọc ở nách lá hay ngọn cành. Trục phát hoa dài 10 -15 cm mầu xanh, có lông.
Lá bắc hình vảy nhỏ, có lông. Đài hoa mầu trắng dài 1cm, rời, đều, hơi cong hình lòng muỗng. Cánh hoa mầu trắng hơi vàng, rời, không đều, cánh hoa dạng thìa, phấn nằm ngoài, dài hơn nhị bất thụ và đối diện với cánh hoa, nhị bất thụ nằm xen kẽ cánh hoa. Chỉ nhị mầu vàng dài 06, - 1 cm, có lông.
Bao phấn hình bầu dục, mầu vàng. Bộ nhụy 3 lá noãn dính, tạo thành bầu trên 1 ô, mang nhiều noãn, đính noãn bên, có lông. Vòi nhụy màu xanh, dài 1,8 cm, có nhiều lông. Đầu nhụy hình trụ, màu vàng, có lông (Trần Việt Hưng và Võ Duy Huấn, 2007) [48].
Quả dạng nang treo, dài 25 – 30 cm, có 3 cạnh, chỗ có hạt hơi gồ lên, dọc theo quả có khía rãnh, quả khô màu vàng xám. Hạt màu trắng sữa, tròn, to lớn cỡ hạt đậu Hà Lan. Cây Moringa oleiferanếu trồng bằng hạt hệ thống rễ sẽ phát triển nhanh hơn trồng bằng cách giâm, rễ câyMoringa oleifera trồng bằng hạt phình to như củ, mầu trắng, rễ thưa nhau. Khả năng nhân giống Khi để giống M.
oleifera bằng hạt cần lưu ý rằng: Tỷ lệ nẩy mầm của hạt giảm rất nhanh theo thời gian bảo quản, hạt mới thu hoạch tỷ lệ nẩy mầm là 60 5 – 90 %, sau 2 tháng giảm xuống chỉ còn 48%, sau 3 tháng trong điều kiện bảo quản thông thường thì chỉ còn 7,5%. Cây trồng từ hạt, trong giai đoạn cây con thường yếu nên cần được chăm sóc tốt và trong điều kiện bóng mát còn đối với biện pháp giâm cành cũng có thể thực hiện, tuy nhiên hiệu quả không cao do hệ số nhân giống thấp, người ta thường tiến hành giâm cành vào mùa mưa, khi điều kiện không khí đạt được độ ẩm thích hợp. Ở Việt Nam cây trổ hoa nhiều đợt trong một năm. Quả chín, hạt giống phát tán khắp nơi theo gió và nước hoặc được mang đi bởi những loài động vật ăn hạt.
oleifera có khả năng tái sinh chồi mạnh nên người ta thường lựa chọn phương pháp nhân giống in vitro để nhân giống cây M. oleifera nhằm khắc phụcnhững hạn chế của phương pháp trồng bằng hạt hoặc giâm cành. Với nguồn nguyên liệu là đoạn chồi từ cây mẹ đã chọn lọc, chỉ trong một thời gian ngắnngười ta có thể tạo ra lượng lớn cây con có chất lượng tốt, đồng đều, đủ đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và thương mại vớigiá thành sản xuất thấp, phù hợp với sản xuất đại trà. Một số giá trị sử dụng của cây Moringa oleifera * Giá trị dinh dưỡng: Hạt Moringa oleifera chứa nhiều dầu, dầu có thể sử dụng làm dầu ăn (chế biến các món ăn).
Dầu có tỷ lệ axit béo khoảng 67,9%, trong đó chủ yếu là axit béo không no, vì vậy nó có thể thay thế các loại dầu ăn quý như dầu oliu. Toàn bộ quả Moringa oleifera được sử dụng để ăn xanh, hạt được rang thành bột, hấp trong trà và món cà ri (Fahey, 2005) [40]. Lá Moringa oleifera chứa nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt là các vitamin thiết yếu như vitamin A, C và E. Lá Moringa oleifera là nguồn dinh dưỡng bổ sung các hợp chất hữu cơ tự nhiên tốt cho sức khỏe con người, được hai tổ chức thế giới WHO và FAO khuyến cáo sử dụng cho các bà mẹ thiếu sữa và trẻ suy dinh dưỡng.
So sánh hàm lượng một số dinh dưỡng chính trong lá Moringa oleifera với một số loại thực phẩm phổ biến hiện nay cho thấy: hàm lượng 6 vitamin C nhiều hơn 7 lần so với quả cam; vitamin A nhiều hơn 4 lần so với cà rốt; canxi nhiều hơn 4 lần so với sữa; chất sắt nhiều hơn 3 lần so với rau cải bó xôi; chất đạm (protein) nhiều hơn 2 lần so với yaourt; kali nhiều 3 lần sovới quả chuối. Ngoài ra, trong lá Moringa oleiferacòn chứa hàm lượng cao carotenoid hoạt tính sinh học, tocopherols và vitamin C.Các nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh rằng các loại rau quả giàu carotenoid có liên quan đến giảm nguy cơ ung thư, bệnh tim mạch, sự thoái hoá điểm vàng và sự hình thành đục thuỷ tinh thể (Bennett và cs, 2003) [38]. Những chất dinh dưỡng thiết yếu có thể giúp làm giảm sự thiếu hụt dinh dưỡng và chống lại nhiều căn bệnh mãn tính. *Giá trị y học, dược liệu Các bộ phận của câyMoringa oleifera như thân, rễ, lá, hạt Moringa oleiferađã được dùng để trị nhiều bệnh trong y học dân gian tại nhiều nước trong vùng Nam Á.Trong lá, rễ, hạt, vỏ cây, quả và hoa có những hoạt tính như kích thích hoạt động của tim, hệ tuần hoàn, hoạt tính chống u bướu, hạ nhiệt, chống kinh phong, chống sưng viêm, trị ung loét, chống co giật, lợi tiểu, hạ huyết áp, hạ cholesierol, chống oxy hóa, trị tiểu đường, bảo vệ gan, kháng sinh và chống nấm.
*Sử dụng trong công nghiệp Hạt Moringa oleiferachứa nhiều dầu chiếm khoảng 42% dầu hạt Moringa oleiferacó màu vàng, ngoài giá trị sử dụng như một loại dầu ăn, thì cũng được sử dụng khá rộng rãi trong nền công nghiệp sản xuất các thiết bịcần độ chính xác cao, được sử dụng như một chất bôi trơn cho các máy móc thiết bị cần chính xác vì không gây ra hiện tượng ôi và bám dính. Ngoài ra, dầu trong hạt Moringa oleifera còn được biết đến với khả năng hấp thụ và giữ lại các chất dễ bay hơi được sử dụng trong ngành công nghiệp nước hoa dùng để giữổn định mùi hương. Hàm lượng axit béo tự do thay đổi từ 0,5 - 3,0%, hàm lượng axit béo no chiếm 13%, axit béo không no chiếm 82%, đặc biệt có lượng axit oleic cao chiếm 40%. 7 *Sử dụng lọc nước Hạt Moringa oleiferacó chứa từ 30 - 42% dầu và lượng protein rất cao.
Trong nước bẩn có các chất keo và cationhoạt động như chuỗi điện tử,các cation này có tác dụng trung hoà các chất keo trong nước bẩn bởi vì đa số các chất keo này mang điện tích âm. Do đó protein này có thể được sử dụng như một polypeptide tự nhiên không độc hại, làm kết tủa các ionkim loại và các chất hữu cơ trong quá trình lọc nước uống, làm sạch dầu thực vật hoặc làm kết tủa cellulose trong, vừa đắt tiền lại không phù hợp sản xuất bia, nước trái cây;điều này hoàn toàn ngược lại với các chất kết tủa được sử dụng trong công nghiệp như nhôm có thể là chất độc hại đến sức khoẻ con người. Ở Trung Quốc và Ấn Độ người ta đã sớm nhận biếtcác đặc tính của các polypeptide có trong hạt Moringa oleifera. Ở Ai Cập và Sudan người talàm sạch nước sông Nile để sử dụng làm nước uống bằng cách loại bỏ vỏ hạtM.oleifera sau đó nghiền thành bột rồi cho vào nước khuấy đều trong 5 phút, sau 1 giờlọc nước qua vải để thu nước tinh khiết hoặccho bột Moringa oleifera vào túi vải và treo lơ lửng trong nước trong khoảng 10-12 giờ, sau đó gạn lấy nước tinh khiết;sử dụng phương pháp này có thể loại bỏ được trên 99% các tạp chất trong nước.
Chỉ cần sử dụng 1g bột hạt Moringa oleifera cho 1 lít nước hơi đục và 2g cho 1 lít nước đục là có thể lọc được cơ bản các tạp chất. *Sử dụng kích thích sinh trưởng thực vật Dung dịch chiết xuất thu được từ lá Moringa oleiferatrong ethanol 80% có chứa chất kích thích sinh trưởng thực vật (thuộc nhóm cytokinin). Chất chiết xuất này có thể được phun trực tiếp lên lá cây để kích sinh trưởng cây con, làm cho thực vật cứng cáp hơn, chống chịu tốt hơn với sâu bệnh hại, cây trồng ra hoa nhiều hơn, tăng kích thước quả và tăng năng suất.