Chương 1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu 5 Chương 2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan về lịch sử nghiên cứu. Ở chương này, tác giả tập trung làm rõ một số khái niệm về ngân hàng thương mại, cơ cấu vốn của ngân hàng thương mại và hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại, đồng thời, tác giả cũng liệt kê những nghiên cứu trước đó về đề tài liên quan, tóm lược các kết quả của nghiên cứu trước đó và đánh giá những ưu điểm và hạn chế nhằm nhằm đưa ra cơ sở lý thuyết để thực hiện đề tài.
Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, tác giả đưa ra giả thuyết và mô hình nghiên cứu, phương pháp chọn dữ liệu và tính toán các chỉ số, giải thích việc lựa chọn các biển trong mô hình. Kết quả nghiên cứu. Đây là chương đưa ra các kết quả chạy hồi quy và phân tích ý nghĩa của việc chạy mô hình.
Kết luận và đề xuất. Từ những kết quả và phân tích mô hình trên trên, tác giả đưa ra những kết luận và đề xuất các giải pháp nhằm mục tiêu cải thiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm và đặc trưng của ngân hàng thương mại 2.
Khái niệm ngân hàng thương mại Cùng với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế thế giới, ngân hàng thương mại (NHTM) đã xuất hiện từ rất lâu đời và tùy thuộc vào từng quốc gia, từng nền kinh tế mà NHTM được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Theo Luật pháp nước Mỹ: “Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”. Theo Đạo luật Ngân hàng của Pháp năm 1941 quy định: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên 6 đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Luật Ngân hàng của Ấn Độ ban hành năm 1950, được bổ sung năm 1959 đã quy định: “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”.
Ở Việt Nam, theo quy định tại Khoản 1 Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng Số 47/2010/QH12 được Quốc hội khoá XII thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Theo Khoản 2,3 Điều 4 quy định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.” “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” Và cũng tại Khoản 12 điều này quy định: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.” Như vậy, có thể thấy rằng dựa vào tính chất, đặc điểm và mục tiêu hoạt động của các ngân hàng thương mại mà định nghĩa của nó được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Tuy nhiên, nhìn chung, định nghĩa về NHTM có thể được hiểu một cách bao quát như sau: NHTM là một định chế tài chính đóng vai trò trung gian trong việc cung cấp tín dụng cho các chủ thể có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế hoặc cung cấp các dịch vụ 7 thanh toán khác thông qua việc nhận tiền gửi ký thác. Ngày nay, NHTM đóng một vai trò không thể thay thế trong nền kinh tế, các ngân hàng chính là cầu nối giữa các chủ thể thừa vốn và thiếu vốn trong xã hội thông qua hoạt động huy động và cho vay, là động lực cho sự phát triển của nền sản xuất quốc gia. Một số đặc điểm của ngân hàng thương mại: Về cơ cấu tài chính: Ngân hàng thương mại là loại hình doanh nghiệp đặc biệt có quy mô lớn, hệ số nợ rất cao và cấu trúc tài sản đặc biệt. NHTM là doanh nghiệp có quy mô lớn trên cả góc độ vốn chủ sở hữu và tổng tài sản.
Ở Việt Nam, vốn chủ sở hữu của các NHTM là hàng chục nghìn tỷ đồng. đối với các NHTM trên thế giới, vốn chủ sở hữu lên tới nhiều tỷ đô la Mỹ. Mạng lưới các chi nhánh ngân hàng thường rất lớn và phân tán rộng về địa lý. Trong khi quy mô về vốn chủ sở hữu đã rất lớn, nguồn vốn của NHTM lại chủ yếu là nợ được huy động từ bên ngoài ngân hàng.
Cấu trúc tài sản của NHTM đặc biệt hơn so với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh khác là ở tỷ trọng tài sản tài chính. Phần lớn tài sản của NHTM là tài sản tài chính, mang đặc trưng trừu tượng, hình thái vật chất giản đơn chỉ là giấy tờ hoặc thậm chí chỉ là dữ liệu điện tử được lưu giữ trong hệ thống phần mềm quản lý của ngân hàng. Bên cạnh đó, NHTM thường có xu hướng liên tục phát triển các sản phẩm, công cụ tài chính mới. Về rủi ro hoạt động: Trên góc độ tài chính doanh nghiệp, doanh nghiệp có hệ số nợ cao sẽ dẫn đến rủi ro trong hoạt động cũng cao.
Bên cạnh đó, nguồn vốn nợ chủ yếu của NHTM lại là tiền gửi huy động với đặc trưng có thể bị rút ra trước hạn với khối lượng khó xác định. Sản phẩm, dịch vụ NH không được hưởng quy chế bảo hộ độc quyền và mang tính phức tạp, trực tiếp. Hơn nữa, Ngân hàng thương mại tham gia vào nhiều cam kết trong khi chưa chuyển giao vốn thực sự, tức là hoạt động ngoại bảng phong phú và đa dạng. điểm này là một đặc trưng khác biệt với các loại hình doanh nghiệp khác.
Vì những lý do này, hoạt động của NHTM chứa đựng nhiều rủi ro hơn các doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề khác. Rủi ro trong hoạt động của NHTM đa dạng, ở mức độ cao, tích luỹ nhanh và dễ lây lan. Rủi ro trong 8 hoạt động của NHTM bao gồm các loại rủi ro đặc thù như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro vốn khả dụng, rủi ro đạo đức,… Là loại hình doanh nghiệp có quy mô lớn, mạng lưới rộng khắp, hoạt động chịu nhiều rủi ro, ảnh hưởng đáng kể đến nhiều hoạt động kinh tế xã hội, NHTM chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của hệ thống pháp luật của nhà nước nơi nó hoạt động. Các quy định pháp lý đối với NHTM được phổ rộng trên nhiều mặt của hoạt động kinh doanh như: điều kiện kinh doanh, tiêu chuẩn của người lãnh đạo ngân hàng, dự trữ bắt buộc, bảo hiểm tiền gửi, chỉ tiêu an toàn trong hoạt động, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, sử dụng vốn tự có đầu tư cho tài sản cố định,… Tính liên kết và ổn định của hệ thống ngân hàng: Hệ thống ngân hàng có tính phụ thuộc lẫn nhau rất lớn.
Hơn bất cứ ngành kinh doanh nào trong nền kinh tế, rủi ro trong hoạt động ngân hàng có tính lan toả rất nhanh. Hoạt động như một hệ thống các mắt xích liên kết chặt chẽ, chỉ cần một NHTM, dù yếu và nhỏ nhất, gặp khó khăn trong hoạt động, đặc biệt là khó khăn về thanh khoản, là có thể dẫn đến nguy cơ phá sập hệ thống. Thực tiễn đã cho thấy, thanh khoản được ví như hơi thở của sự sống của hoạt động NHTM. Mọi rủi ro, tổn thất trong hoạt động của NHTM đều có thể dẫn đến hậu quả cuối cùng là ngân hàng mất khả năng thanh toán rồi phá sản.
Hệ thống ngân hàng – tài chính trong nền kinh tế rất nhạy cảm với mọi biến động về kinh tế, kỹ thuật, chính trị và xã hội. Những biến động này thường có tác động gần như tức thời đến hoạt động của thị trường tài chính, điển hình là thị trường chứng khoán, theo đó, nó gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của hệ thống ngân hàng. đối với công tác quản lý vĩ mô nền kinh tế, việc nắm bắt được cơ chế hoạt động, ảnh hưởng lẫn nhau của các phần tử trong hệ thống tài chính là một trong những vấn đề cốt yếu, quyết định thành bại. Lý thuyết về cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại 2.
Khái niệm vốn của ngân hàng thương mại Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được dùng để đầu tư, cho vay hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh 9 khác. Nó chi phối toàn bộ hoạt động của NHTM và quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Thực chất, vốn của ngân hàng là một bộ phận của thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, người sở hữu nguồn tiền nhàn rỗi gửi vào ngân hàng với mục đích thanh toán, tiết kiệm hay đầu tư. Nói cách khác, họ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn cho ngân hàng, để ngân hàng trả lại cho họ một khoản thu nhập.
Như vậy, ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung vốn và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, góp phần làm thúc đẩy quá trình luân chuyển vốn, kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển. Đồng thời, chính hiệu quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh tế đó lại quyết định sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Cơ cấu vốn của ngân hàng thương mại Theo Saad (2010) “Cơ cấu vốn, về mặt tài chính, có nghĩa là cách một công ty tài trợ tài sản của mình thông qua sự kết hợp của vốn chủ sở hữu và nợ". Khái niệm cơ cấu vốn đề cập đến sự kết giữa tỷ lệ nợ và vốn chủ sở hữu được sử dụng để tài trợ cho tài chính của công ty.