Chương 1: Khái lược về chủ nghĩa tượng trưng và phong trào Thơ mới. Chương 2: Tính tương giao và hệ thống biểu tượng trong Thơ mới. Chương 3: Ngôn từ và nhạc tính trong Thơ mới. KHÁI LƢỢC VỀ CHỦ NGHĨA TƢỢNG TRƢNG VÀ PHONG TRÀO THƠ MỚI 1.
Sự ra đời của chủ nghĩa tƣợng trƣng Soi chiếu lịch sử văn học Pháp, ta có thể thấy sự ra đời của chủ nghĩa tượng trưng bắt nguồn từ nửa kỉ cuối thế kỉ XIX, khi mà cuộc khủng hoảng của văn hóa nhân văn phương Tây dẫn đến sự chống lại Chủ nghĩa tự nhiên và các nguyên tắc Thực chứng luận của nhóm Thi Sơn. Chủ nghĩa tượng trưng Pháp xuất hiện những năm 50 của thế kỉ XIX và phát triển mạnh vào cuối thế kỉ XIX. Đây được coi là thế kỉ của những bão tố chính trị, những đảo lộn chưa từng thấy trong lịch sử của đất nước, của các tầng lớp và của mỗi cá nhân. Xét về sự tác động của bối cảnh lịch sử thì chủ nghĩa tượng trưng ra đời một phần cũng là do những nhà thơ có sự bất mãn sâu xa với xã hội Pháp với nền chuyên chế Napoleon III, sự bành trướng của đế quốc chủ nghĩa…Thêm vào đó, các học thuyết xã hội mà các nhà tư tưởng đưa ra về bảo thủ hay tiền tiến, hoài niệm hay quá khứ ngưỡng vọng tương lai (trước những đảo lộn xã hội làm tan rã nhiều trật tự vốn có), đã tạo nên những chuyển biến khá mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của những nghệ sĩ sống trong thế kỉ ấy.
Nếu như trước đây, chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực ra đời đã để lại dấu ấn vô cùng quan trọng trong lịch sử văn học Pháp thì khi xã hội thay đổi, những 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình thái nghệ thuật ấy đã lần lượt nhường chỗ cho chủ nghĩa tự nhiên với yêu cầu mô tả cuộc sống bằng những phương pháp của khoa học tự nhiên. Chủ nghĩa tự nhiên (Naturalism) ra đời và tồn tại những năm 1870 – 1880 với những đại biểu như Edmond, Goncourt, Zola. Họ yêu cầu miêu tả cuộc sống bằng phương pháp của khoa học tự nhiên, chú trọng tư liệu về con người và hiện tượng đời sống, đặc biệt là đời sống sinh lí và những hoạt động vật chất của con người. Họ coi trọng quan sát, săn tìm tư liệu hơn là dùng trí tưởng tượng.
Thế nhưng, chủ nghĩa tự nhiên sau giai đoạn phồn vinh mà đỉnh điểm là năm 1880, trường phái Tự nhiên chủ nghĩa lại đi vào rạn nứt và tan rã. Năm 1884, Ngược chiều của J. Huysmans (với đự dịnh khảo sát đến cùng một nhân vật mắc bệnh thần kinh dẫn tới miêu tả những ám ảnh, mộng mị, đạt “hiệu quả hư ảo, phi thực tế) đã khiến chủ nghĩa tự nhiên hoàn toàn bị đảo ngược. Đỉnh điểm là tới tháng 8 năm 1887, nhiều nhà văn đã từng hâm mộ Zola đã tập hợp và viết bản Tuyên ngôn nổi tiếng để kịch liệt lên án tiểu thuyết Đất của ông.
Đó là kết quả tất yếu của sự chán ngán muốn tìm một hình thái nghệ thuật khác của những nghệ sĩ đương thời bấy giờ. Chính vì ý thức muốn tìm một hình thái nghệ thuật mới thay thế cho hình thái nghệ thuật của chủ nghĩa tự nhiên không còn phù hợp, một số nhà thơ trẻ đã tập hợp những vần thơ mới trong Tuyển tập Thi Sơn với 3 tập thơ được xuất bản lần lượt những năm 1866, 1869, 1876 và lập nên nhóm Thi Sơn. Họ nổi lên như một sự phản ứng trực tiếp với chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực, cũng như sự thờ ơ với thơ của độc giả. Với việc lập ra nhóm này, các nhà thơ muốn đoạt lại thơ ca và làm cho nó hồi sinh bằng những năng lượng mới.
Nhóm Thi sơn theo chủ trương nghệ thuật vị nghệ thuật, và trong thơ cần có nhạc của Gautier, quan tâm đến việc luyện âm và chữ, đưa nhục cảm vào thơ của Banville. Họ không tin ở cảm hứng mà tin vào lao động ngôn ngữ; kết hợp với tưởng tượng nhà thơ bộc lộ những đam mê trần trụi của mình. Họ từ chối “cái tôi” trữ tình lãng mạn, trở về gần hơn với sự hoàn hảo của thi ca cổ điển, với những câu thơ hay, 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giầu âm điệu, đầy chất suy tưởng. Hai yếu tố huyền ảo và âm nhạc, được đưa vào thơ.
Thi sơn ảnh hưởng sâu rộng trong thi ca Pháp tới đầu thế kỷ XX. Trong bối cảnh đời sống thơ ca nửa sau thế kỉ XIX, chữ “suy đồi” được nhắc nhiều trong phê bình từ những năm 60 với ý nghĩa khẳng định sự tàn lụi của thơ trước văn xuôi, và đến những năm 80 nó ám chỉ một khát vọng đưa thơ ca vượt khỏi đời sống hàng ngày, có tính chất trưởng giả, nhàm chán. Lúc này Baudelaire được nói đến nhiều, trở thành người được bàn luận rộng rãi với những hình ảnh bị cho là không lành mạnh, kì lạ, bi quan. Những nhà thơ mới nổi nhóm lại với nhau trong những nhóm gọi là những người suy đồi, và từ đó họ dần tự tách ra khỏi phái Thi Sơn, trở thành những tập hợp nhỏ trên thi đàn.
Các nhà thơ suy đồi đã phản bác lại việc phái Thi Sơn chủ trương xu hướng vô ngã của thơ cũng như văn chương hiện thực và tự nhiên chỉ chú trọng tính xác thực bề mặt và loại bỏ yếu tố chủ thể ra khỏi sáng tạo văn học. Có thể nói rằng, trên danh nghĩa là thơ suy đồi và những người suy đồi, nhưng thực chất đó là định hướng một nguồn thơ mới – thơ tượng trưng – mà nó sẽ có tên gọi chính thức từ 1886. Và trong thực tế, trong thời kì gọi là suy đồi cũng đã xuất hiện rải rác trên các tạp chí và các báo những từ như “tượng trưng”, “những người tượng trưng” [59]. Trước bối cảnh một trường phái mới có thể thành hình, Jean Moréas, gửi một bức thư để đăng trên báo Le Figaro, ngày 18/9/1886, dưới cái tựa (do toà soạn chọn) Một bản tuyên ngôn văn chương, trong lá thư đó, ông đề nghị chữ Symbolisme (Trường phái Tượng trưng) là thích hợp nhất để chỉ trường phái này.
Theo ông, gọi những nhà thơ mới là những nhà thơ tượng trưng (symbolistes) phù hợp hơn so với cách gọi Những nhà thơ suy đồi (decadents), vì thế hệ các nhà thơ trẻ luôn ý thức tìm kiếm những biểu tượng vĩnh cửu. Với bài báo này, Moréas chính là người có công chỉ ra bước đi cụ thể đầu tiên, ở đó chủ nghĩa tượng trưng sẽ thế chỗ cho thơ suy đồi, và đó sẽ là một khái niệm phổ biến về một phong cách thơ đầy tính cách mạng [59]. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bài của Moréas được coi là bản “Tuyên ngôn Tượng trưng”. Nhưng bản “tuyên ngôn” này cũng không có gì mới, tác giả chỉ định vị chỗ đứng của trào lưu Tượng trưng trong dòng chảy của thi ca, và đề cao vai trò của những người “khai sáng” như Baudelaire, Banville, Mallarmé, Verlaine.
mà không nói gì đến việc định nghĩa khái niệm Tượng trưng. Nguyên tắc sáng tạo và đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa tƣợng trƣng Chủ nghĩa tượng trưng không có lý thuyết rõ như chủ nghĩa lãng mạn hay chủ nghĩa cổ điển. Chủ nghĩa lãng mạn có bài Tựa Cromwell của Hugo, chủ nghĩa cổ điển có cuốn Nghệ thuật thơ của Boileau, còn chủ nghĩa tượng trưng tuy có ra tuyên ngôn nhưng tuyên ngôn không nêu rõ nguyên tắc mỹ học của trường phái này. Có một số tài liệu đáng chú ý: Lời nói đầu của Mallarmé viết cho đầu cuốn Luận về ngôn từ của René Ghil, Tuyên ngôn của chủ nghĩa tượng trưng của Jean Moréas.
Từ những tài liệu đó, có thể thấy mấy yêu cầu chính của phái tượng trưng: Một là những người tượng trưng chủ nghĩa cho rằng giữa vũ trụ và con người có những mối tương quan bí ẩn. Những tương quan này được biểu hiện qua những dấu hiệu, những cảm niệm mơ hồ. Sứ mệnh của nhà thơ là tập hợp những mớ cảm niệm ấy và cột nó lại để nói lên cái “Ý niệm nguyên sơ”. Như vậy, những người tượng trưng chủ nghĩa gán cho thơ một nhiệm vụ có tính chất thần bí: khải thị chân lý… Hai là vận dụng cho được cái hay của các nguyên âm, phụ âm, vận dụng âm điệu thế nào để cho một từ thành một tượng trưng hay như Mallarmé nói: “một từ đầy đủ, mới mẻ, xa lạ với ngôn ngữ và nghe như thần chú”.
Ba là những người tượng trưng chủ nghĩa phải chú trọng cải cách câu thơ Pháp, đề cao câu thơ tự do. Những yêu cầu đó được những người tượng trưng chủ nghĩa nêu ra hoặc bằng sáng tác thơ hoặc bằng lời lẽ có tính chất lý luận. Verlaine viết trong Nghệ thuật thơ (1884) có đoạn nói đến cách biểu hiện thơ của ông. Verlaine thích cái lơ lửng không rõ ràng, thích sắc thái hơn màu sắc, vì sắc thái có khả năng biến màu sắc này sang màu 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khác, tạo ra một cái gì không rõ ràng, hợp với tâm trạng người tượng trưng chủ nghĩa.
Verlaine nhấn mạnh yếu tố âm nhạc trong thơ: “Âm nhạc trước mọi sự”. Thơ không mô tả, kể lể, mà ám thị, muốn ám thị thơ cần âm nhạc, làm cho độc giả nghe bài thơ như người nghe âm nhạc. Thi sĩ chú trọng vần điệu hơn đường nét cấu trúc, do đó số âm tiết ít nhiều không quan trọng. Chủ nghĩa tượng trưng quan niệm nghệ thuật không phản ánh thế giới thực tại, thế giới của của hiện tượng mà là một thế giới siêu tưởng, một thế giới mơ hồ của sự tương hợp giữa ánh sáng, màu sắc, âm thanh, mùi hương và nhạc điệu.
Chủ thể tiếp nhận thơ tượng trưng cùng một lúc có thể cảm ứng tổng hòa thế giới âm thanh, màu sắc, mùi hương bằng tất cả các giác quan tương ứng. Các nhà tượng trưng xem thế giới hữu hình chỉ là hình ảnh, là cái bóng, là biểu trưng cho một thế giới mà ta không thấy được. Họ quan niệm chính cái không nhìn thấy đó mới là bản thể của thế giới. Nhà thơ tượng trưng nhận thức thế giới bằng trực giác, chỉ có trực giác mới giúp họ nắm bắt được cái vô hình, mới ứng cảm được thế giới đích thực mà ta không nhìn thấy.
Họ cho rằng nghệ thuật nếu muốn phản ánh thế giới thì phải tìm ra những “hiện thực ẩn dấu” và thể hiện nó bằng các biểu trưng thẩm mĩ. Nhà thơ cùng một lúc vừa phân thân, vừa tụ hội các năng lực cảm biến thế giới bên trong và thế giới trực giác, trong ấn tượng, tượng trưng.