Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây lúa Lúa có tên khoa học là Oryza sativa L., thuộc chi Oryzae, họ hòa thảo (Poaceae). Theo Khush (1997), chi Oryzae có thé có nguồn gốc khoảng 130 triệu năm trước ở Gondwanaland và các loài khác nhau đã phân bố ở khắp nơi bằng việc trôi đạt lục địa. Trong chi Oryza, có hai loài lúa trồng được canh tác hiện nay là Oryza sativa L. ở Châu A va Oryza glaberrima Steud.
Võ Tong Xuân, 1984 (theo Nguyễn Ngọc Dé, 2008), cây lúa được canh tác ở Việt Nam từ rất lâu. Dựa trên các di chỉ Đồng Đậu và trống đồng Đông Sơn có in hình người giã gạo, cùng với các vỏ trau cháy thành than đã chứng tỏ ngành trồng lúa đã có cách đây từ 3330 - 4100 năm.2 Tình hình sản xuất lúa ở một số nước Châu Á và Việt Nam 1.1 Tình hình sản xuất lúa ở một số nước Châu Á Bang 1.1 Tình hình sản xuất lúa ở một số nước Châu A Tên quốc gia Diện tích (ha) Năng suất (tan/ha) Sản lượng (tấn) Trung Quốc 29.170 (Nguon: FAO, 2021) Từ số liệu Bảng 1.1 cho thấy Trung Quốc tuy chỉ đứng thứ hai về diện tích gieo trồng lúa gạo nhưng lại đứng đầu về sản lượng và năng suất lúa gạo. Trung Quốc chú trọng phát triển công nghệ sinh học, thực hiện các chính sách về ruộng đất hỗ trợ cho nông dân bằng việc chuyên dich cơ cau nông nghiệp, nông thôn (Lê Xuân Cử, 2015). Ấn Độ là nước đứng đầu về diện tích gieo trồng lúa gạo, tuy nhiên năng suất lúa còn chưa cao (4,2 tắn/ha) nên sản lượng chỉ đứng thứ hai sau Trung Quốc.
An Độ tăng cường áp dụng khoa học, công nghệ, đây mạnh việc nhập khẩu các giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu, bệnh (Nguyễn Văn Lịch, 2007). Ngoài ra, An Độ có đầu tư áp dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật canh tác mới, phát triển hạ tầng, cải tạo đất, loại bỏ những hạn chế vận chuyên nông sản (Minh Huệ, 2015). Thái Lan là nước đứng thứ tư về diện tích gieo trồng lúa, đứng thứ sáu về sản lượng lúa. Dù sản lượng điện tích đứng thứ tư nhưng năng suất lúa vẫn chưa cao (3,0 tan/ha), tuy nhiên nhưng giá trị gạo của Thái Lan luôn được biết đến là vô cùng tốt.
Các chính sách nông nghiệp của Thái Lan đã phát huy hiệu quả cao: chính sách trợ giá, đây mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ; chính sách cơ cấu lại nông nghiệp nông thôn; mở rộng thị trường thu hút đầu tư mạnh mẽ từ nước ngoài; đào tạo kỹ thuật, chuyên giao công nghệ cho nông dân (Trần Việt Dũng, 2015). Việt Nam đứng thứ hai về năng suất, thứ năm về sản lượng và thứ sáu về điện tích. Lúa là cây lương thực quan trọng nhất của Việt Nam, vì vậy chính phủ cũng đã có những chính sách về cải tiến giống, nghiên cứu, chuyền giao kỹ thuật canh tác thích hợp, nghiên cứu thị trường xuất khâu gạo, nghiên cứu hiệu quả trồng lúa và các yếu tố ảnh hưởng (Hoang Kim, 2017).2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam Từ số liệu thông kê ở Bảng 1.2 cho thấy tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam trong những năm qua đang có chiều hướng tăng dan. Diện tích và sản lượng lúa gạo Việt Nam giảm dan qua các năm do việc chuyên đổi sang các loại cây trồng khác nhưng sản lượng và năng suất vẫn tăng.
Tuy sản lượng lúa giảm nhưng năng suất lúa theo chiều hướng tăng nhờ việc ứng dụng các quy trình sản xuất lúa tiên tiến ở nhiều địa phương nên van đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ trong nước, chế biển và xuất khẩu.2 Diện tích, nang suất và sản lượng lúa gạo tại Việt Nam năm 2017 đến năm 2022 Năm Diện tích (nghìnha) Năng suất (tạha) Sản lượng (nghìn tấn) 2017 7.660 (Nguon: Tổng cục Thong kê Việt Nam, 2023) Theo Hoang Kim (2017), ở Việt Nam lua là cây lương thực chính va có vi trí trọng yếu trong an ninh lương thực. Ở Việt Nam cây lúa chiếm diện tích gieo trồng và sản lượng lớn nhất ngành sản xuất lương thực là ngành quan trọng nhất của nông nghiệp Việt Nam. Trong cơ cấu kinh tế của đất nước, nông nghiệp Việt Nam có vai trò làm giá đỡ nên tăng, đóng góp 22,1% GDP, gần 30% giá trị xuất khẩu và trên 60% lực lượng lao động. Sản phẩm từ lúa gạo là thức ăn không thê thiếu trong bữa ăn hàng ngày của mỗi người dân Việt Nam nói riêng và đông đảo cộng đồng dân cư trên thế giới nói chung.
Tốc độ tăng năng suất lúa gạo Việt Nam (1975 - 2014) vượt 1,73 lần so với tốc độ tăng năng suất lúa gạo bình quân chung của toàn thế giới. Năm 2015, diện tích đất trồng lúa ở Việt Nam là 7,83 triệu ha, tổng sản lượng lúa đạt 45,22 triệu tấn, năng suất bình quân đạt 57,7 tạ/ha, đã xuất khẩu 6,7 triệu tấn, tăng 5,8% so với năm 2014. Sản xuất lúa gạo ở vị trí trung tâm của an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam. Sản xuất lương thực là giá đỡ cho nền kinh tế với điện tích hàng năm khoảng 9 triệu hecta, chiếm 72 - 75% tổng diện tích các loại cây trồng.
Suốt thời gian dai, ngành sản xuất: lương thực Việt Nam đã tăng trưởng cao và 6n định, góp phần quyết định trong những thành tựu của nước ta vượt qua khủng hoảng kinh tế (Hoàng Kim, 2017).3 Sơ lược về bệnh đạo ôn Tác nhân gây bệnh: Magnaporthe grisea (T. Barr, tên cũ: Pyricularia grisea (Cooke) Saccardo.1 Lịch sử, phân bố và thiệt hại do bệnh đạo ôn gây ra Bệnh đạo ôn trên lúa là một trong những bệnh hại quan trọng ở các quốc gia trồng lúa vì nó phân bồ rộng rãi khắp thế giới và gây thiệt hại nghiêm trong. Theo các báo cáo về bệnh đạo ôn trên thế giới xuất hiện từ rất sớm. Bệnh được phát hiện đầu tiên ở Italia năm 1560, sau đó ở Trung Quốc năm 1637, Nhật Bản năm 1760, Mỹ năm 1906 và Ấn Độ năm 1913,.
Ở nước ta, Vincens (người Pháp) đã phát hiện một số bệnh ở Nam Bộ vào năm 1921. Theo Nguyễn Thị Thanh Nga và ctv (2013), ở Việt Nam vào năm 2013 dịch bệnh đạo ôn bùng phát tại các tỉnh Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên từ rất sớm, các tỉnh ở phía Nam như Đồng Tháp, Long An, Sóc trăng, Đồng Nai,. trong các năm gần đây bệnh đạo ôn phát triển rất mạnh ở cả 3 vụ trong năm và chúng xâm nhiễm hau hết trên các giông lúa. Tsuchiya đã chỉ ra sự xuất hiện của bệnh đạo ôn ở tỉnh Ichikawa của Nhật Bản trong cuốn sách của ông xuất bản năm 1704.
Sau đó, bệnh này được ghi nhận ở Nhật Bản bởi S. Ở Ý, căn bệnh có tên là “brusone” đã được báo cáo bởi Astolfi vào năm 1828, Brugnatelli vào năm 1838, Gera vào năm 1846,. Những ghi chép ban đầu về “brusone” còn mơ hồ. Mặc đù một số tác giả xem bệnh này giống hệt bệnh đạo ôn, nhưng nó có thé bao gồm các bệnh khác hoặc có thể khác biệt hoàn toàn (Ou, 1985).
Metcalf (1906, 1907) (dẫn theo Ou, 1985) đã chỉ ra rằng đạo ôn lúa đã gây thiệt hại ở Nam Carolina ngay từ năm 1876, và ông coi đây là bệnh nghiêm trọng nhất trong số 8 bệnh hại lúa được ghi nhận ở Hoa Kỳ vào năm 1907. Có lẽ ông là người đầu tiên gọi bệnh “blast” trong tiếng Anh. Theo Ou (1985), ở Nhật Bản, tốn thất hàng năm trong giai đoạn 1953 đến 1960 dao động từ 1,4% đến 7,3% với trung bình là 2,98% tổng sản lượng, mặc dù việc kiểm soát hóa học rộng rãi đã được thực hiện. Ở Án Độ, hon 266 000 tan lúa bị mat do bệnh đạo ôn trong niên vụ 1960 - 1961, chiếm khoảng 0,8% tông sản lượng (Padmanabhan, 1965).
Tại các vùng dich của Philippines, nhiều nghìn ha đã bị thiệt hại trên 50% năng suất. Một số nghiên cứu đã được thực hiện dé ước tính thiệt hại năng suất do bệnh đạo ôn bông và đạo ôn lá. Katsube và Koshimizu (1970) (dẫn theo Ou, 1985) đã ước tính chi tiết cả năng suất và tôn thất chất lượng do bệnh đạo ôn cô gié. Họ đã báo cáo rằng cứ 10% đạo ôn cô gié thì có năng suất giảm 6% và tỷ lệ hạt lép tăng 5%, làm giảm chất lượng gạo từ một đến hai hạng.
Tổng thiệt hại về thu nhập ước tính khoảng 7 - 9%. Khi lúa bị đạo ôn cô bông 1% thì năng suất có thé bị giảm từ 0,7 - 17.4% tùy thuộc vào các yếu tô liên quan khác.2 Triệu chứng và vị trí gầy hại Bệnh đạo ôn có thể phát sinh từ thời kỳ mạ đến lúa chín và có thê gây hại ở bẹ lá, lá, long thân, cỗ bông, gié và hạt (Vũ Triệu Man, 2007).1 Trên mạ Theo Vũ Triệu Mân (2007), vết bệnh trên lá mạ lúc đầu hình bầu dục nhỏ sau tạo thành hình thoi nhỏ hoặc hình dạng tương tự hình thoi, có màu nâu hồng hoặc nâu vàng. Khi bệnh nặng, từng đám vết bệnh kế tiếp nhau có thể làm cây mạ héo khô hoặc chết.1 Vét bénh dao 6n trén ma 1.2 Trên lúa Theo Vũ Triệu Mân (2007), vết bệnh trên lá lúa lúc đầu thường là những chấm nhỏ màu xanh lục hoặc mờ vết dầu, sau đó chuyên sang màu xám nhạt. Tùy theo mức độ phản ứng của cây mà sự phát triển của triệu chứng bệnh có thể khác nhau.
Đối với các giống lúa man cảm, các vét bệnh thường có hình thoi, to, dày, màu nâu nhạt, có khi có quang vàng nhạt và tâm vết bệnh có màu nâu xám. Đối với các giống có khả năng chống chịu, vết bệnh là các vết cham rất nhỏ, có hình dang không đặc trưng. Còn ở các giống có phản ứng trung gian, các vết bệnh hình tròn hoặc hình bau dục nhỏ, xung quanh vét bệnh có viên màu nâu. Trên cổ bông, cô gié và hạt lúa: Ở các vị trí khác nhau của bông lúa đều có thé bị bệnh với triệu chứng các vết bệnh màu nâu xám hơi teo thắt lại.
Vết bệnh trên cổ bông xuất hiện sớm sẽ làm bông lúa bị lép, bạc lạc; nếu xuất hiện muộn khi hạt đã vô gạo thì gây hiện tượng gãy cô bông. Vết bệnh ở hạt định hình, có màu nâu xám hoặc nâu đen. Nam ký sinh ở vỏ trau và có thé ở bên trong hạt lúa. Hạt giống bị bệnh là nguồn truyền bệnh từ vụ này qua vụ khác (Vũ Triệu Mân, 2007).2 Vết bệnh đạo ôn trên lúa A) Trên lá; B) Trên cỗ bông; C) Trên đốt thân 1.3 Ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh đến sự sinh trưởng và phát triển của bệnh đạo ôn 1.