Tổng quan luận án

Trong bối cảnh nền kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính toàn cầu xuất hiện nhiều biến động phức tạp, sự bất định (uncertainty) nổi lên như một yếu tố rủi ro trọng yếu, tác động sâu rộng đến quá trình ra quyết định của các chủ thể kinh tế. Đối với hệ thống tài chính, đặc biệt tại các nền kinh tế mới nổi đang trong quá trình chuyển đổi như Việt Nam – nơi thị trường vốn chưa phát triển toàn diện và nguồn tài trợ cho tăng trưởng kinh tế phụ thuộc phần lớn vào hệ thống ngân hàng thương mại – hoạt động cho vay đóng vai trò huyết mạch. Sau các giai đoạn tái cấu trúc, chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 và quá trình triển khai các tiêu chuẩn quản lý quốc tế theo hiệp ước Basel, ngành ngân hàng Việt Nam đã chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ về áp lực cạnh tranh cũng như sự chuyển dịch sang mô hình đa dạng hóa tài sản, nguồn vốn và thu nhập.

Các công trình nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đã ghi nhận rằng bất định kinh tế tác động trực tiếp đến việc tích lũy thanh khoản, làm giảm giá trị thị trường và ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu hiện hữu chỉ tập trung xem xét mối quan hệ hai chiều giữa bất định và hoạt động cho vay, hoặc chỉ đánh giá các yếu tố điều tiết mang tính truyền thống như quy mô, tỷ lệ an toàn vốn hay thanh khoản. Chưa có công trình nào tại Việt Nam hay ở các thị trường mới nổi khảo sát một cách toàn diện vai trò điều tiết của chiến lược đa dạng hóa hoạt động đối với mối liên hệ giữa bất định ngân hàng và ba chiều cạnh cốt lõi của hoạt động cho vay: quy mô (tăng trưởng cho vay), chất lượng (rủi ro tín dụng) và chi phí (giá cả khoản vay). Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (mã số 9340201) của nghiên cứu sinh Nguyễn Tấn Phúc, do GS. Đặng Văn Dân hướng dẫn tại Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2026), tập trung giải quyết.

Mục tiêu tổng quát của luận án là đánh giá tác động của bất định đối với hoạt động cho vay của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò điều tiết của đa dạng hoá ngân hàng. Để đạt được mục tiêu tổng quát, đề tài thiết lập bốn mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá tác động của bất định đối với cách thức cơ cấu danh mục tài sản của các ngân hàng, cụ thể thông qua việc cung ứng số lượng vốn vay cho nền kinh tế (tăng trưởng cho vay). Câu hỏi nghiên cứu: Hệ thống ngân hàng bơm vốn ra nền kinh tế như thế nào khi tình hình bất định gia tăng?
  2. Đánh giá tác động của bất định đối với chất lượng vốn vay của ngân hàng, biểu thị qua rủi ro tín dụng. Câu hỏi nghiên cứu: Sự bất định của hệ thống ngân hàng có làm tăng khả năng ngân hàng cho vay các đối tượng có rủi ro cao hơn đi kèm với chất lượng tín dụng suy giảm?
  3. Đánh giá tác động của bất định đối với chi phí cho vay của ngân hàng, tức giá cả của vốn vay. Câu hỏi nghiên cứu: Nền kinh tế có phải tiếp cận nguồn vốn có chi phí cao hơn trước sự bất định của hệ thống ngân hàng?
  4. Đánh giá vai trò điều tiết của đa dạng hóa trong mối tương quan giữa bất định và hoạt động cho vay trên ba khía cạnh: đa dạng hoá tài sản, đa dạng hoá nguồn vốn và đa dạng hoá thu nhập. Câu hỏi nghiên cứu: Liệu đa dạng hóa có thể giảm bớt tác động đối với hoạt động cho vay của ngân hàng do sự bất định gây ra hay không?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là bất định ngân hàng, các nhân tố đại diện cho hoạt động cho vay của ngân hàng và tác động của bất định ngân hàng đến hoạt động cho vay. Phạm vi nghiên cứu về không gian bao gồm các ngân hàng thương mại tại Việt Nam có công bố báo cáo tài chính đầy đủ. Phạm vi thời gian nghiên cứu kéo dài từ năm 2010 đến năm 2023. Mốc thời gian bắt đầu từ năm 2010 được tác giả lựa chọn nhằm loại trừ các điểm gãy cấu trúc và biến động quá lớn trong hệ thống tài chính bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2007–2009. Mẫu nghiên cứu chính thức bao gồm 40 ngân hàng thương mại, chiếm tỷ trọng chi phối về quy mô tổng tài sản trong toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước xoay quanh mối quan hệ giữa bất định, hành vi cho vay và chiến lược đa dạng hóa của ngân hàng:

  • Hướng nghiên cứu về bất định và quy mô cung ứng tín dụng: Đa số các công trình quốc tế khẳng định bất định chính sách và bất định kinh tế làm suy giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng (Buch và cộng sự, 2015; Bordo và cộng sự, 2016; Danisman và cộng sự, 2020; Bilgin và cộng sự, 2021). Khi xem xét các yếu tố điều tiết thuộc đặc tính ngân hàng, Valencia (2017) nhận thấy ngân hàng có thanh khoản thấp và vốn hóa yếu sẽ cắt giảm cho vay mạnh hơn trong thời kỳ bất định; Bordo và cộng sự (2016) chỉ ra ngân hàng quy mô lớn phản ứng nhạy cảm hơn; trong khi Danisman và cộng sự (2020) lại tìm thấy bằng chứng các ngân hàng vốn hóa tốt chịu tác động mạnh hơn từ bất định. Altunbas và cộng sự (2010) lưu ý rằng các chỉ tiêu quy mô hay vốn hóa chưa phản ánh đầy đủ khả năng phản ứng chiến lược của ngân hàng.
  • Hướng nghiên cứu về bất định và rủi ro tín dụng: Chi và Li (2017) khảo sát các ngân hàng thương mại Trung Quốc giai đoạn 2000–2014, ghi nhận bất định làm gia tăng rủi ro tín dụng nhưng độ sâu tài chính đóng vai trò giảm sốc; Caglayan và Xu (2019) nghiên cứu dữ liệu bảng 18 quốc gia giai đoạn 1985–2013 và chỉ ra bất định làm tăng rủi ro nợ xấu cùng mức dự phòng rủi ro cho vay; Danisman và cộng sự (2021) phân tích hệ thống ngân hàng Mỹ giai đoạn 1996–2016, xác nhận bất định chính sách kinh tế thúc đẩy tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, song hiệu ứng này yếu hơn ở các ngân hàng có cấu trúc quản trị rủi ro tốt; Duan và cộng sự (2022) nhận định ngân hàng có thể giảm tỷ trọng tài sản rủi ro để bảo toàn vốn khi bất định tăng cao.
  • Hướng nghiên cứu về bất định và chi phí cho vay: Bermpei và cộng sự (2023), Ashraf và Shen (2019), Francis và cộng sự (2014) khảo sát cơ chế định giá khoản vay và cho thấy bất định làm gia tăng phần bù rủi ro, buộc ngân hàng phải nâng lãi suất cho vay để bù đắp các tổn thất tiềm ẩn và chi phí vốn gia tăng.
  • Hướng nghiên cứu về đa dạng hóa hoạt động ngân hàng: Quan điểm ủng hộ của Simoens và Vander (2021), Laeven và Levine (2007), Boot (2000) xem đa dạng hóa là công cụ hấp thụ cú sốc nhờ kết hợp các nguồn thu ít tương quan và giảm thiểu bất cân xứng thông tin. Ngược lại, DeYoung và Roland (2001) cùng Stiroh và Rumble (2006) cảnh báo rằng việc mở rộng sang các mảng phi truyền thống có thể làm gia tăng biến động thu nhập do rào cản gia nhập thấp và làm suy yếu chức năng giám sát tín dụng chuẩn mực.
  • Hướng nghiên cứu về phương pháp đo lường bất định: Tài liệu ghi nhận các phương pháp sử dụng biến giả sự kiện (Nguyen và Vo, 2024), phương pháp phân tích tần suất văn bản báo chí xây dựng chỉ số EPU và GEPU (Baker và cộng sự, 2016), và phương pháp đo lường sự phân tán của các cú sốc vi mô cấp doanh nghiệp và ngân hàng (Bloom, 2009; Buch và cộng sự, 2015).

Vị trí của luận án: Luận án định vị khoảng trống nghiên cứu rõ ràng khi chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây chưa xem xét đầy đủ yếu tố điều tiết mang tính chiến lược là đa dạng hóa ngân hàng. Luận án là công trình nghiên cứu thực nghiệm tại thị trường Việt Nam kết hợp đồng thời việc đo lường bất định đặc thù ngành ngân hàng với việc phân tích toàn diện vai trò điều tiết của ba khía cạnh đa dạng hóa (tài sản, nguồn vốn, thu nhập) lên ba biến số cốt lõi của hoạt động cho vay: khối lượng, chất lượng và giá cả khoản vay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng một hệ thống lý thuyết kinh tế và tài chính chặt chẽ để xây dựng khung phân tích:

  • Khái niệm nền tảng về bất định: Dựa trên Knight (1921), phân biệt rõ giữa rủi ro (các biến cố có phân phối xác suất xác định) và bất định (các biến cố không thể đoán trước và xác suất không thể định lượng); định nghĩa của Bernanke (1983) và Bloom (2009) gắn bất định với các biến động vĩ mô; phân tích đặc điểm của Al-Thaqeb và Algharabali (2019) về thông tin bất cân xứng và biến động thị trường.
  • Lý thuyết quyền chọn thực (Real Options Theory) và hiệu ứng trì hoãn: Được phát triển bởi Bernanke (1983), Dixit (1989), Pindyck (1988) và Bloom (2009). Lý thuyết lập luận rằng trước các quyết định đầu tư không thể đảo ngược, sự bất định làm gia tăng giá trị của quyền chọn chờ đợi thông tin mới (wait-and-see), thúc đẩy các ngân hàng trì hoãn mở rộng cho vay và thẩm định tín dụng khắt khe hơn.
  • Lý thuyết phần bù rủi ro: Valencia (2017) chỉ ra rằng bất định làm tăng phần bù rủi ro trên thị trường tài chính, khiến chi phí huy động vốn của ngân hàng tăng lên, buộc ngân hàng phải phản ánh rủi ro này vào lãi suất cho vay.
  • Lý thuyết tiết kiệm và dự phòng: Gulen và Ion (2016) lập luận bất định làm tăng động cơ tiết kiệm dự phòng của người tiêu dùng và doanh nghiệp, làm giảm nhu cầu chi tiêu và đầu tư.
  • Lý thuyết tùy chọn tăng trưởng và hiệu ứng điều chỉnh thị trường: Đặng Văn Dân (2023a) và Abel (1983) phân tích các khía cạnh tích cực khi doanh nghiệp mở rộng quy mô để nắm bắt cơ hội thuận lợi trong điều kiện biến động.
  • Động cơ tìm kiếm lợi nhuận và bất cân xứng thông tin: Hartzmark (2016), Valencia (2017), Tang và Yan (2010), Mishkin (1999) và Rajan (2006) giải thích hành vi phân bổ danh mục và định giá tín dụng của ngân hàng.
  • Lý thuyết danh mục đầu tư và đa dạng hóa: Markowitz (1952), Boot (2000), DeYoung và Roland (2001) cung cấp nền tảng về việc phân tán rủi ro thông qua kết hợp các tài sản, cấu trúc vốn và nguồn thu nhập có mức độ tương quan thấp.

Về phương pháp đo lường các biến số:

  • Biến bất định ngân hàng: Tác giả áp dụng phương pháp của Buch và cộng sự (2015), phái sinh từ Bloom và cộng sự (2009), đo lường mức độ phân tán của các cú sốc đặc thù đối với tăng trưởng tài sản và lợi nhuận của ngân hàng thông qua quy trình hai bước có kiểm soát hiệu ứng cố định theo ngân hàng và theo thời gian.
  • Biến hoạt động cho vay: Bao gồm ba khía cạnh: (1) Quy mô: Tốc độ tăng trưởng cho vay; (2) Chất lượng/Rủi ro tín dụng: Tỷ lệ nợ xấu (NPL) và chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng; (3) Chi phí: Giá cả khoản vay (lãi suất cho vay).
  • Biến đa dạng hóa: Đo lường qua chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) và biến phân kỳ (DIV): $$HHI_{it} = 1 - \sum_{i=1}^n \left(\frac{S_i}{S_{total}}\right)^2$$ Được tính toán độc lập cho ba chiều: đa dạng hoá tài sản ($HHI_{asset}$, $DIV_{asset}$), đa dạng hoá nguồn vốn ($HHI_{fund}$, $DIV_{fund}$) và đa dạng hoá thu nhập ($HHI_{income}$, $DIV_{income}$).
  • Biến kiểm soát: Quy mô ngân hàng (tổng tài sản), tỷ lệ vốn chủ sở hữu, thanh khoản ngân hàng, khả năng sinh lời (ROA), tăng trưởng kinh tế (GDP) và biến chính sách tiền tệ.

Bảng tổng hợp hệ thống biến số và nguồn thu thập dữ liệu của luận án:

Tên biến số Vai trò trong mô hình Khía cạnh đo lường Nguồn dữ liệu
Bất định ngân hàng Biến giải thích chính Độ phân tán cú sốc tài sản và lợi nhuận ngân hàng Báo cáo tài chính (FiinPro)
Tăng trưởng cho vay Biến phụ thuộc Quy mô cung ứng vốn vay cho nền kinh tế Báo cáo tài chính (FiinPro)
Nợ xấu (NPL) Biến phụ thuộc Rủi ro tín dụng / chất lượng vốn vay Báo cáo tài chính (FiinPro)
Chi phí trích lập dự phòng Biến phụ thuộc Rủi ro tín dụng / biện pháp bảo toàn tín dụng Báo cáo tài chính (FiinPro)
Giá cả khoản vay Biến phụ thuộc Chi phí cho vay / lãi suất áp dụng với người vay Báo cáo tài chính (FiinPro)
Đa dạng hóa tài sản Biến điều tiết Chỉ số HHI và DIV của danh mục tài sản Báo cáo tài chính (FiinPro)
Đa dạng hóa nguồn vốn Biến điều tiết Chỉ số HHI và DIV của cấu trúc huy động vốn Báo cáo tài chính (FiinPro)
Đa dạng hóa thu nhập Biến điều tiết Chỉ số HHI và DIV của nguồn thu nhập Báo cáo tài chính (FiinPro)
Đặc tính ngân hàng Biến kiểm soát Quy mô, vốn chủ sở hữu, thanh khoản, ROA Báo cáo tài chính (FiinPro)
Biến số vĩ mô Biến kiểm soát Tăng trưởng GDP, biến số chính sách tiền tệ World Bank, Ngân hàng Nhà nước

Phương pháp kinh tế lượng: Luận án sử dụng mô hình hồi quy bảng động (Dynamic Panel Model) và ước lượng bằng phương pháp moment tổng quát hệ thống hai bước (Two-step System GMM) do Blundell và Bond (1998) phát triển, kết hợp với các nghiên cứu của Arellano và Bond (1991), Bond và cộng sự (2001). Phương pháp này kết hợp phương trình sai phân và phương trình gốc, sử dụng các biến trễ làm biến công cụ nhằm kiểm soát hiệu quả hiện tượng nội sinh phát sinh từ biến phụ thuộc trễ, quan hệ nhân quả đảo ngược, hiện tượng bỏ sót biến và sai số đo lường. Độ tin cậy của mô hình được đánh giá qua kiểm định Hansen về tính hợp lệ của hệ thống biến công cụ ngoại sinh và kiểm định Arellano-Bond nhằm bảo đảm không tồn tại hiện tượng tự tương quan chuỗi bậc hai AR(2) trong phần dư sai phân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mở đầu

Chương 1 thiết lập khung định hướng nghiên cứu tổng thể. Tác giả trình bày lý do chọn đề tài dựa trên tính bất định của môi trường kinh tế vĩ mô và sự vận hành của hệ thống ngân hàng Việt Nam sau khủng hoảng tài chính và hội nhập WTO. Mục tiêu nghiên cứu được cụ thể hóa thành hệ thống bốn mục tiêu và câu hỏi tương ứng. Đối tượng nghiên cứu xác định là bất định ngân hàng và ba chiều cạnh của hoạt động cho vay cùng vai trò điều tiết của đa dạng hóa. Phạm vi nghiên cứu ấn định giai đoạn 2010–2023 trên 40 ngân hàng thương mại Việt Nam. Tác giả khái quát dữ liệu từ FiinPro, World Bank, Ngân hàng Nhà nước và nêu rõ phương pháp ước lượng GMM hệ thống hai bước. Chương 1 kết thúc bằng việc khẳng định các đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu

Chương 2 thực hiện tổng quan học thuật sâu sắc về các khái niệm và lý thuyết nền tảng. Nội dung chương tập trung vào:

  • Lý thuyết về bản chất của bất định: Phân tích các luận điểm của Knight (1921), Bernanke (1983), Bloom (2009), Al-Thaqeb và Algharabali (2019) về sự khó dự đoán của các kết quả kinh tế và phân biệt bất định với rủi ro thông thường.
  • Các lý thuyết giải thích tác động của bất định: Phân tích cơ chế trì hoãn đầu tư của lý thuyết quyền chọn thực (Bernanke, 1983; Dixit, 1989; Pindyck, 1988), lý thuyết phần bù rủi ro (Valencia, 2017), lý thuyết tiết kiệm dự phòng (Gulen và Ion, 2016), lý thuyết tùy chọn tăng trưởng (Đặng Văn Dân, 2023a) và hiệu ứng điều chỉnh dựa trên điều kiện thị trường (Abel, 1983).
  • Bất định trong lĩnh vực ngân hàng: Áp dụng khung lý thuyết của Buch và cộng sự (2015) và Bloom và cộng sự (2009) để xác định bất định ngân hàng thông qua sự phân tán của các cú sốc tác động vào tài sản và lợi nhuận.
  • Các yếu tố đánh giá hoạt động cho vay: Trình bày cơ sở lý luận và các nhân tố ảnh hưởng (quy mô, vốn, thanh khoản, lợi nhuận, GDP, chính sách tiền tệ) đến ba khía cạnh: quy mô cho vay (Boyd và Runkle, 1993; Berger và Bouwman, 2013; Kashyap và Stein, 2000), chất lượng cho vay và chi phí cho vay (Bermpei và cộng sự, 2023; Ashraf và Shen, 2019; Francis và cộng sự, 2014).
  • Lý thuyết đa dạng hóa ngân hàng: Phân tích động cơ đa dạng hóa tài sản (Markowitz, 1952), nguồn vốn và thu nhập (DeYoung và Roland, 2001; Stiroh và Rumble, 2006; Lepetit và cộng sự, 2008), cùng phương pháp tính toán chỉ số HHI.
  • Cơ sở lý thuyết về mối liên hệ ba bên: Luận giải cơ chế truyền dẫn tác động cùng chiều và ngược chiều giữa bất định với tăng trưởng cho vay, rủi ro tín dụng và chi phí cho vay; vai trò giảm sốc của đa dạng hóa (Simoens và Vander, 2021; Boot, 2000). Chương 2 tổng thuật các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và trong nước, qua đó xác lập khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam.

Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

Chương 3 chi tiết hóa mô hình kinh tế lượng và quy trình xử lý dữ liệu:

  • Thiết lập phương trình hồi quy động đánh giá tác động trực tiếp của bất định ngân hàng đến tăng trưởng cho vay, nợ xấu, chi phí trích lập dự phòng và giá cả khoản vay.
  • Thiết lập phương trình hồi quy tương tác nhằm kiểm tra vai trò điều tiết của các biến đa dạng hoá tài sản, nguồn vốn và thu nhập (thông qua chỉ số HHI và DIV tương ứng).
  • Trình bày công thức ước lượng hai bước để tách chiết chỉ số bất định ngân hàng theo Buch và cộng sự (2015), loại bỏ các yếu tố cố định vĩ mô và đặc thù ngân hàng.
  • Định nghĩa chi tiết biến phụ thuộc, biến giải thích, các biến tương tác điều tiết và nhóm biến kiểm soát cấp ngân hàng cùng cấp vĩ mô.
  • Mô tả quy trình thu thập dữ liệu bảng từ 40 ngân hàng thương mại giai đoạn 2010–2023 thông qua FiinPro, Ngân hàng Nhà nước và World Bank; đồng thời xây dựng các giả thuyết kiểm định thống kê.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 trình bày toàn bộ kết quả phân tích định lượng thực nghiệm:

  • Bối cảnh hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2010–2023, phân tích diễn biến bất định ngân hàng, mức tăng trưởng cho vay bình quân, chất lượng cho vay, chi phí cho vay và mức độ đa dạng hóa.
  • Trình bày bảng thống kê mô tả của các biến số và ma trận hệ số tương quan giữa các biến.
  • Kết quả hồi quy mô hình động GMM hệ thống hai bước đối với tác động của bất định lên tăng trưởng cho vay: Xác nhận mối quan hệ ngược chiều có ý nghĩa thống kê; khi bất định tăng, ngân hàng chủ động giảm cung ứng tín dụng.
  • Kết quả hồi quy đối với rủi ro tín dụng: Xác nhận mối quan hệ ngược chiều giữa bất định ngân hàng và nợ xấu cũng như chi phí trích lập dự phòng rủi ro; chỉ ra rằng trong môi trường bất định, ngân hàng siết chặt tiêu chuẩn tín dụng và trì hoãn giải ngân rủi ro, dẫn đến cải thiện chất lượng tín dụng.
  • Kết quả hồi quy đối với chi phí cho vay: Xác nhận mối quan hệ cùng chiều giữa bất định và giá cả khoản vay; người vay phải chịu mức lãi suất cao hơn do ngân hàng cộng thêm phần bù rủi ro.
  • Kết quả hồi quy mô hình tương tác điều tiết: Trình bày chi tiết các bảng hồi quy cho thấy các hệ số tương tác giữa bất định và đa dạng hóa (tài sản, nguồn vốn, thu nhập) đều có ý nghĩa thống kê, chứng minh rằng tác động của bất định lên số lượng và chất lượng cho vay suy yếu rõ rệt tại các ngân hàng có mức độ đa dạng hóa cao.
  • Thảo luận học thuật kết nối các phát hiện với các nghiên cứu thực nghiệm tiền nhiệm.

Chương 5: Kết luận và hàm ý

Chương 5 đúc kết các kết quả đạt được và đề xuất các nhóm hàm ý chính sách:

  • Hàm ý cho cơ quan quản lý (Ngân hàng Nhà nước): Nâng cao tính nhất quán và khả năng dự báo của chính sách kinh tế nhằm giảm thiểu bất định; thiết kế các quy định giám sát khuyến khích ngân hàng đa dạng hóa cơ cấu kinh doanh và kiểm soát rủi ro hệ thống.
  • Hàm ý cho các ngân hàng thương mại: Chủ động triển khai chiến lược đa dạng hóa cơ cấu tài sản, mở rộng nguồn vốn huy động phi truyền thống và gia tăng nguồn thu ngoài lãi để tạo lớp đệm hấp thụ cú sốc bất định; cân bằng giữa chính sách siết chặt tín dụng và hỗ trợ thanh khoản cho khách hàng.
  • Hàm ý cho doanh nghiệp: Dự báo và thích ứng với tình trạng chi phí vay vốn gia tăng trong thời kỳ biến động; minh bạch hóa thông tin tài chính để giảm thiểu chi phí thông tin bất cân xứng khi tiếp cận tín dụng ngân hàng.
  • Nêu rõ các giới hạn của đề tài và gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Kết quả thực nghiệm từ mô hình hồi quy GMM hệ thống hai bước trên dữ liệu bảng của 40 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010–2023 đã mang lại các phát hiện cốt lõi:

  • Về quy mô cho vay: Tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa bất định ngân hàng và tốc độ tăng trưởng cho vay. Khi mức độ bất định trong ngành gia tăng, các ngân hàng phản ứng bằng cách cắt giảm tốc độ cung ứng vốn cho nền kinh tế nhằm phòng ngừa rủi ro thanh khoản.
  • Về chất lượng cho vay: Tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa bất định ngân hàng và rủi ro tín dụng (biểu thị qua tỷ lệ nợ xấu và chi phí trích lập dự phòng). Phát hiện này hàm ý sự bất định thúc đẩy hành vi thận trọng, khiến ngân hàng nâng cao tiêu chuẩn thẩm định tín dụng, giảm đầu tư vào các dự án rủi ro cao và áp dụng chiến lược trì hoãn theo lý thuyết quyền chọn thực, qua đó làm giảm tỷ lệ phát sinh nợ xấu.
  • Về chi phí cho vay: Tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa bất định ngân hàng và giá cả khoản vay. Trong điều kiện bất định tăng, chi phí huy động vốn tăng và ngân hàng yêu cầu một phần bù rủi ro lớn hơn, dẫn đến việc người đi vay phải đối mặt với mức lãi suất cho vay cao hơn.
  • Về vai trò điều tiết của đa dạng hóa: Luận án chứng minh rằng tác động của bất định lên số lượng (tăng trưởng tín dụng) và chất lượng cho vay (rủi ro tín dụng) trở nên yếu hơn ở những ngân hàng có mức độ đa dạng hóa cao. Kết quả này duy trì tính nhất quán trên cả ba phương diện: đa dạng hóa tài sản, đa dạng hóa nguồn vốn và đa dạng hóa thu nhập.

Đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Luận án xây dựng và áp dụng thành công thước đo bất định đặc thù cho lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam dựa trên sự phân tán các cú sốc vi mô theo phương pháp của Buch và cộng sự (2015), khắc phục được hạn chế của các chỉ số vĩ mô tổng hợp hay biến giả sự kiện.
  • Luận án mở rộng khung lý thuyết khi đánh giá đồng thời và toàn diện tác động của bất định ngân hàng lên cả ba chiều kích của hoạt động cho vay: quy mô, chất lượng và chi phí vốn.
  • Luận án bổ sung bằng chứng thực nghiệm quan trọng cho lý thuyết đa dạng hóa và lý thuyết quyền chọn thực trong lĩnh vực ngân hàng tại các thị trường mới nổi, xác nhận vai trò đệm giảm sốc của cấu trúc hoạt động đa dạng (tài sản, nguồn vốn, thu nhập) trước các cú sốc bất định.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:

  • Cung cấp cơ sở khoa học để Ngân hàng Nhà nước hoạch định chính sách tiền tệ ổn định, minh bạch, giảm thiểu các cú sốc chính sách đột ngột gây ra bất định cho thị trường tài chính; đồng thời hoàn thiện khuôn khổ pháp lý tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng mở rộng các hoạt động kinh doanh ngoài tín dụng một cách lành mạnh.
  • Định hướng chiến lược cho các nhà quản trị ngân hàng thương mại trong việc chủ động chuyển đổi mô hình kinh doanh từ thuần tín dụng truyền thống sang mô hình ngân hàng đa năng; tối ưu hóa danh mục tài sản, khai thác các kênh vốn bán buôn và gia tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi nhằm giảm thiểu tính dễ tổn thương trước môi trường kinh doanh bất định.
  • Hỗ trợ các doanh nghiệp trong nền kinh tế nhận thức rõ xu hướng điều chỉnh lãi suất và hạn mức tín dụng của ngân hàng khi bất định gia tăng, từ đó chủ động cơ cấu lại nguồn vốn và nâng cao năng lực tài chính.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Mặc dù đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận án vẫn ghi nhận một số hạn chế nhất định xuất phát từ phạm vi và dữ liệu:

  • Luận án chỉ tập trung khảo sát mẫu dữ liệu gồm 40 ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong khung thời gian 2010–2023. Do đó, các phát hiện có thể mang tính đặc thù đối với cấu trúc thị trường tài chính Việt Nam và chưa bao quát đầy đủ các loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
  • Việc đo lường bất định ngân hàng dựa trên sự phân tán cú sốc tài sản và lợi nhuận tuy phản ánh được tính biến động vi mô nhưng có thể chưa bao quát hết các yếu tố bất định phi tài chính hoặc các cú sốc chính sách đặc thù chưa phản ánh kịp thời vào báo cáo tài chính hàng năm.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi phân tích so sánh liên quốc gia giữa Việt Nam và các thị trường mới nổi khác trong khu vực Đông Nam Á hoặc châu Á để kiểm chứng tính phổ quát của mô hình.
  • Ứng dụng thêm các kỹ thuật đo lường bất định bổ sung như phân tích tần suất ngôn ngữ báo chí chuyên ngành tài chính bằng học máy hoặc sử dụng dữ liệu tần suất cao theo quý/tháng.
  • Khảo sát sâu hơn vai trò điều tiết của đa dạng hóa theo từng phân khúc khách hàng cho vay cụ thể (cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho vay bán lẻ, cho vay bất động sản) nhằm cung cấp các hàm ý quản trị chi tiết hơn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng: Luận án cung cấp một tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình xây dựng mô hình bảng động và kỹ thuật ước lượng GMM hệ thống hai bước (Two-step System GMM) để xử lý triệt để hiện tượng nội sinh. Phương pháp luận bóc tách chỉ số bất định ngân hàng của Buch và cộng sự (2015) và phương pháp tính toán chỉ số HHI đa khía cạnh là những nội dung có giá trị phương pháp luận cao để kế thừa.
  • Đối với giảng viên giảng dạy đại học và sau đại học: Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các học phần Quản trị ngân hàng thương mại, Quản trị rủi ro tài chính, Kinh tế lượng ứng dụng trong tài chính và Lý thuyết tiền tệ - ngân hàng.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính): Luận án cung cấp các luận cứ thực nghiệm định lượng rõ ràng về cơ chế truyền dẫn của bất định đến hành vi cấp tín dụng và định giá lãi suất, hỗ trợ công tác điều hành vĩ mô và ban hành chính sách an toàn hệ thống.
  • Đối với lãnh đạo và chuyên viên quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại: Chương 4 và Chương 5 cung cấp các kết quả và hàm ý thực tiễn có giá trị trực tiếp đối với việc xây dựng chiến lược kinh doanh đa dạng hóa danh mục tài sản, nguồn vốn và các mảng thu nhập dịch vụ nhằm thiết lập hàng rào phòng ngừa rủi ro bất định.

Câu hỏi thường gặp

  1. Bất định ngân hàng trong luận án được định nghĩa và đo lường bằng phương pháp nào? Trả lời: Luận án bám sát định nghĩa lý thuyết của Buch và cộng sự (2015), theo đó bất định ngân hàng là trạng thái mà kết quả tương lai trở nên khó dự đoán, biểu hiện qua sự lan rộng và gia tăng cường độ của các cú sốc tác động vào các biến số tài chính của ngân hàng. Để đo lường, tác giả áp dụng quy trình hồi quy hai bước phái sinh từ Bloom và cộng sự (2009): bước một cô lập các cú sốc đặc thù cấp ngân hàng đối với tăng trưởng tài sản và lợi nhuận bằng cách kiểm soát các hiệu ứng cố định ngân hàng và thời gian; bước hai sử dụng phần dư này để tính toán độ phân tán giữa các ngân hàng, tạo thành chỉ số bất định vi mô đặc thù cho hệ thống ngân hàng.

  2. Tại sao bất định ngân hàng gia tăng lại dẫn đến việc giảm rủi ro tín dụng và cải thiện chất lượng vốn vay? Trả lời: Kết quả này được luận án lý giải dựa trên lý thuyết quyền chọn thực (Real Options Theory) và hành vi quản trị thận trọng. Khi môi trường kinh doanh bất định, các ngân hàng đối mặt với tình trạng bất cân xứng thông tin gia tăng và nguy cơ tổn thất không thể đảo ngược từ các quyết định cấp tín dụng sai lầm. Do đó, ngân hàng chủ động áp dụng chiến lược chờ đợi (wait-and-see), nâng cao tiêu chuẩn thẩm định tín dụng, đòi hỏi tài sản bảo đảm cao hơn và chủ động cắt giảm các khoản vay cho các dự án có mức độ rủi ro cao. Hành vi sàng lọc khắt khe này giúp danh mục tín dụng cấp mới an toàn hơn, từ đó làm giảm tỷ lệ nợ xấu phát sinh và chi phí trích lập dự phòng.

  3. Vai trò điều tiết của đa dạng hóa hoạt động ngân hàng được thể hiện như thế nào trong kết quả thực nghiệm? Trả lời: Kết quả hồi quy mô hình tương tác cho thấy các hệ số của biến tương tác giữa bất định và các chỉ số đa dạng hóa đều có ý nghĩa thống kê. Điều này chứng minh rằng đa dạng hóa đóng vai trò như một cơ chế hấp thụ rủi ro, làm suy yếu tác động tiêu cực của bất định lên số lượng và chất lượng cho vay. Mức độ suy giảm cung ứng tín dụng cũng như sự biến động về chất lượng cho vay do bất định gây ra diễn ra nhẹ hơn ở các ngân hàng có mức độ đa dạng hóa cao. Đáng chú ý, vai trò giảm sốc này thể hiện tính nhất quán trên cả ba khía cạnh: đa dạng hóa danh mục tài sản, đa dạng hóa cơ cấu nguồn vốn huy động và đa dạng hóa các nguồn thu nhập ngoài lãi.

  4. Luận án giải quyết vấn đề nội sinh trong mô hình kinh tế lượng bằng cách nào? Trả lời: Hoạt động cho vay của ngân hàng thường mang tính chất phụ thuộc động vào quá khứ và có thể tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều hoặc sai số đo lường với các biến giải thích. Để giải quyết triệt để vấn đề nội sinh này, luận án sử dụng phương pháp ước lượng moment tổng quát hệ thống hai bước (Two-step System GMM) của Blundell và Bond (1998). Phương pháp này lập hệ thống phương trình đồng thời gồm phương trình sai phân và phương trình gốc, sử dụng chính các biến trễ làm biến công cụ nội tại. Tính hợp lệ của mô hình được bảo đảm thông qua việc vượt qua kiểm định Hansen (biến công cụ hoàn toàn ngoại sinh) và kiểm định Arellano-Bond (không có hiện tượng tự tương quan chuỗi bậc hai trong phần dư).

  5. Tại sao luận án lựa chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2023? Trả lời: Tác giả ấn định mốc thời gian bắt đầu từ năm 2010 nhằm loại trừ những biến động quá bất thường và các điểm gãy cấu trúc của các chỉ số tài chính do tác động trực tiếp từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007–2009. Giai đoạn 2010–2023 là thời kỳ hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam thực hiện hàng loạt cải cách thể chế quan trọng, chuyển đổi theo các chuẩn mực Basel và ghi nhận sự cạnh tranh cùng xu hướng đa dạng hóa hoạt động mạnh mẽ, cung cấp bộ dữ liệu bảng ổn định và phù hợp để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Tấn Phúc là một công trình nghiên cứu thực nghiệm định lượng toàn diện về mối quan hệ giữa bất định ngành ngân hàng, hoạt động cho vay và vai trò điều tiết của đa dạng hóa tại Việt Nam giai đoạn 2010–2023. Bằng việc áp dụng phương pháp ước lượng GMM hệ thống hai bước hiện đại trên mẫu 40 ngân hàng thương mại, nghiên cứu đã chứng minh rằng sự bất định làm suy giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng, làm tăng chi phí cho vay nhưng góp phần cải thiện chất lượng tín dụng thông qua hành vi thận trọng của ngân hàng. Đồng thời, luận án khẳng định vai trò đệm giảm sốc của chiến lược đa dạng hóa hoạt động trên cả ba phương diện tài sản, nguồn vốn và thu nhập. Các kết quả và hàm ý từ luận án cung cấp căn cứ khoa học xác thực cho các nhà hoạch định chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Nhà nước cũng như các nhà quản trị ngân hàng thương mại trong quá trình quản trị rủi ro và điều hành tín dụng an toàn, bền vững.