Chương 1: Tổng quan về pin mặt trời CIGS Chương 2: các phương pháp chế tạo màng mỏng CIGS. Chương 3: phương pháp lắng đọng điện hóa. Chương 4: quá trình thực nghiệm, kết quả và thảo luận. Nguyễn Thanh Nghị 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn tốt nghiệp Chƣơng 1 - TỔNG QUAN VỀ PIN MẶT TRỜI 1.1 Quá trình phát triển của pin mặt trời (PMT)[1] Pin năng lượng mặt trời (hay pin quang điện), là thiết bị bán dẫn chứa lượng lớn các diod bán dẫn p-n, khi hấp thụ ánh sáng mặt trời có khả năng tạo ra dòng điện sử dụng được.
Hiện tượng chất bán dẫn chuyển quang năng thành điện năng gọi là hiệu ứng quang điện. Hiệu ứng quang điện được phát hiện năm 1839 bởi nhà vật lý Pháp Alexandre Edmond Becquerel. Năm 1883, Charles Fritts đã tạo ra một pin năng lượng bằng cách phủ lên mạch bán dẫn selen một lớp cực mỏng vàng để tạo nên mạch nối, thiết bị này chỉ có hiệu suất 1%. Đến năm 1946, Russell Ohl được xem là người đã tạo ra pin năng lượng mặt trời đầu tiên.
PMT lần đầu tiên được ứng dụng là trên vệ tinh Vangaurd 1 của Mĩ, được phóng năm 1958. Kể từ đó PMT đã được cải tiến nhiều nhưng chỉ sử dụng ở những vùng mà giá thành điện đưa tới đắt hơn nhiều. Những năm 1973 khi khủng hoảng dầu mỏ xảy ra khiến giá dầu thế giới tăng lên đột ngột, PMT mới đóng vai trò đáng kể, mặc dù cũng có nhiều nguồn năng lượng khác thay thế như gió, nước, … Ngày nay PMT được sản xuất trên toàn thế giới đặt biệt là ở các nước tiên tiến như Mĩ, Đức, Tây Ban Nha… Pin mặt trời gồm 4 loại : Pin mặt trời silicon,Pin mặt trờihợp chất.Pin mặt trờipolymer,Pin mặt trờimàu. Sơ đồ phân loại PMT.
Nguyễn Thanh Nghị 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn tốt nghiệp 1.2 Một số loại PMT 1.1 PMT silic a) Silic đơn tinh thể Silic đơn tinh thể module được sản xuất dựa trên quá trình Czochralski. Đơn tinh thể loại này có hiệu suất từ 11% đến 16%. Chúng thường rất đắt tiền do được cắt từ các thỏi hình trụ, các tấm đơn tinh thể này có các mặt trống ở góc nối các module. b) Silic đa tinh thể Silic đa tinh thể làm từ các thỏi đúc - đúc từ silic nung chảy cẩn thận được làm nguội và làm rắn.
Các pin này thường rẻ hơn các đơn tinh thể nhưng cho hiệu suất kém hơn (từ 8-11%). Tuy nhiên, chúng có thể tạo thành các tấm vuông che phủ bề mặt nhiều hơn đơn tinh thể bù lại cho hiệu suất thấp của nó. c) Dải silic (silic vô định hình) Dải silic tạo từ các miếng phim mỏng từ silic nóng chảy và có cấu trúc đa tinh thể. Loại này thường có hiệu suất thấp nhất trong các loại PMT silicon (từ 3-6%).Tuy nhiên, loại này rẻ nhất trong các loại pin silic vì không cần phải cắt từ thỏi silicon.
Các loại cấu trúc tinh thể của PMT. PMT hợp chất a) Hợp chất Gali Arsen (GaAs) GaAs là một màng mỏng đơn tinh thể ứng dụng trong PMT có hiệu suất cao. Tuy nhiên, GaAs có giá thành cao. Năm 1970, PMT cấu trúc dị thể GaAs đầu tiên được chế tạo bởi nhóm của Zhores Alferov ở Liên Xô.
Trong những năm 1980, hiệu suất của PMT GaAs tốt nhất vượt trội so với PMT silic, và vào thập niên 1990 PMT GaAs vượt qua PMT silic và là loại pin được sử dụng phổ biến nhất cho các mảng quang điện Nguyễn Thanh Nghị 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn tốt nghiệp trong các ứng dụng vệ tinh. Sau đó, PMT chuyển tiếp hai và ba thành phần dựa trên GaAs và các lớp Germani và Indi Gali Photphua được phát triển như chuẩn của một PMT chuyển tiếp ba thành phần đã giữ hiệu suất trên 32 % và có thể hoạt động với ánh sáng hội tụ. Tuy nhiên, GaAs khá độc hại do As có tính độc cao và gây ung thư. b) CuInSe2 (CIS) Đồng indi diselenide (CIS) đã và đang được giới thiệu ra thị trường, với các môđun nguyên mẫu đạt hiệu quả lớn hơn 11%.
CIS cũng đã đạt được các thành công trong phòng thí nghiệm, với hiệu quả pin lên đến 19,2 % ở NREL. Nghiên cứu CIS tập trung vào một số những thách thức hiện nay: - Nâng cao hiệu suất PMT bằng cách tối ưu hóa các phương pháp chế tạo hình thành lớp chuyển tiếp, nghiên cứu chế tạo lớp hấp thụ có khả năng hấp thụ tối đa phần năng lượng cao của phổ năng lượng mặt trời. - Giảm chi phí và tạo điều kiện chuyển đổi sang một giai đoạn thương mại bằng cách tăng sản lượng của modun CIS. - Giảm sự phức tạp và giá thành sản xuất, cải thiện modun.
c) CdTe CdTe là một chất bán dẫn tuyệt vời cho các PMT vì độ rộng vùng cấm của nó là 1,44 eV gần như phù hợp hoàn toàn với quang phổ Mặt trời. Cấu trúc thiết bị cũng bao gồm một lớp rất mỏng của cadmium sulfide, cho phép hầu hết ánh sáng mặt trời đi xuyên qua lớp CdTe. Những đặc tính này làm cho CdTe hứa hẹn khả năng nâng cao hiệu suất mođun và có giá thành sản xuất thấp. Hiện nay NREL đang giữ hiệu suất chuyển đổi kỉ lục thế giới cho CdTe là 16,5 %.
Tuy nhiên, nhược điểm lớn của CdTe đó là CdTe rất độc hại khi nuốt vào hay hít phải bụi của nó hoặc nếu nó được xử lý không đúng cách.3 PMT polyme PMT polyme là một loại PMT linh hoạt. Nó có thể có nhiều dạng bao gồm: PMT hữu cơ hoặc PMT quang hóa hữu cơ sản xuất điện từ ánh sáng Mặt trời bằng cách sử dụng polyme. Công nghệ này tương đối mới, đang được tích cực nghiên cứu bởi các trường Đại học, phòng thí nghiệm quốc gia và một số công ty trên thế giới. Nguyễn Thanh Nghị 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn tốt nghiệp 1.
PMT màu PMT màu là một loại PMT mang mỏng tương đối mới và có giá thành rẻ. Pin này được phát minh bởi Michael Gratzel và Brian O'Regan tại Bang Ecole Polytechnique de Lausanne vào năm 1991. Vì vậy, nó còn được biết đến với tên gọi: pin Gratzel. Loại pin này rất hứa hẹn bởi vì nó được làm bằng vật liệu chi phí thấp và không cần xây dựng bộ máy dây chuyền để sản xuất.
Nó có thể được thiết kế thành các tấm dẻo hoặc cứng. Nên không cần bảo vệ từ những biến cố nhỏ như mưa đá hoặc sét đánh.3 PMT CIGS (Cu-In-Ga-Se) và cấu tạo PMT CIGS (Cu-In-Ga-Se) được cấu tạo từ nhiều lớp: Hình 1. Mô hình cấu tạo PMT. Lớp đế và tiếp xúc đế - Lớp đế: thường là thủy tinh, lá kim loại hay chất dẻo.
- Lớp tiếp xúc đế: thường là Mo. Lớp hấp thụ So với PMT thế hệ Si, CIGS với khe vùng cấm thẳng làm gia tăng hệ số hấp thụ, từ đó tối ưu hóa được chất lượng cũng như thiết kế pin sau này, do hệ số truyền qua phụ thuộc vào tỉ lệ Ga/(Ga+In), từ đó có thể điều chỉnh thành phần Ga để thu được pin mong muốn. Nguyễn Thanh Nghị 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn tốt nghiệp 1. Lớp đệm Vật liệu thường được sử dụng là CdS bằng phương pháp lắng đọng bể hóa học (CBD), tuy nhiên CdS lại rất độc hại nên rất hạn chế trong sử dụng.
Hiện tại, người ta cũng tìm ra một số hợp chất thay thế và chế tạo bằng nhiều phương pháp khác nhau. In(OH)xSy, ZnSe, ZnS bằng phương pháp CBD. ZnS, ZnSe bằng phương pháp bốc bay. Lớp dẫn điện trong suốt (TCO) Hai TCO thường được sử dụng là ZnO/Al và In2O3/Sn (ITO).
Mặt trên của pin là lớp dẫn điện trong suốt, với khe vùng E g> 3,3 beV. Có thể sử dụng khá nhiều vật liệu loại n hoặc loại p, ở dạng đơn chất hay hợp chất nhiều thành phần như: Loại n: Các oxit: ZnO, CdO, SnO2, In2O3, (CdSnO4). Pha tạp: ZnO:B, Al, In, Ga; SnO2:F (FTO). Đa hợp chất: In2O3-SnO2 (ITO)… Loại p: ZnO:N, ZnO:N, Ga; CuGaO2, CuInO2, SrCu2O2.
CIGS là thế hệ pin màng mỏng có nhiều đặc trưng vượt trội so với các thế hệ PMT trước đây: khe vùng thẳng, hệ số hấp thụ cao, năng lượng hấp thụ phù hợp với phổ năng lượng mặt trời, hiệu suất hấp thụ cao và có nhiều phương pháp chế tạo. Nguyễn Thanh Nghị 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn tốt nghiệp Chƣơng 2 - CÁC PHƢƠNG PHÁP CHẾ TẠO LỚP HẤP THỤ MÀNG MỎNG CIGS. Cấu trúc của PMT CIGS có nhiều lớp khác nhau nhưng lớp hấ p thụ Cu (In,Ga)Se2 (CIGS) là lớp quan trọng nhất quyết định hiệu suất hoạt động của pin. Mặc dù, có nhiều phương pháp chế tạo màng CIS và CIGS, nhưng cho đến nay chỉ có một vài kỹ thuật cho kết quả PMT hiệu suất cao (trên 15%).
Các màng hấp thụ cho PMT hiệu suất cao thường được chế tạo bởi phương pháp đồng bốc bay từ nguồn nguyên tố hay bởi phản ứng ủ của các màng tiền chất (lớp nguyên tố hay hợp chất) trong môi trường khí chứa Se. Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu một số phương pháp chế tạo lớp hấp thụ màng mỏng CIGS. Đồng bốc bay từ các nguồn nguyên tố.4: Hệ đồng bốc bay chế tạo CIGS. Có thể nói phương pháp chế tạo lớp hấp thụ thành công nhất cho các pin nhỏ hiệu suất cao là đồng bốc bay 3 bước từ các nguồn nguyên tố trong hơi Se dư thừa.
Việc lắng đọng thường được thực hiện dưới các điều kiện chân không siêu cao sử dụng hệ epitaxi chùm phân tử (MBE). Quá trình 3 bước được phát minh ở Phòng thí nghiệm năng lực tái tạo Quốc gia Mĩ (NREL) dựa trên quá trình hai lớp. Quá trinh này bao gồm: đồng bốc bay của lớp CIGS giàu đồng ở nhiệt độ đế thấp hơn (450 oC), sau đó là lớp giàu In ở nhiệt độ cao hơn (550oC). Các lớp trộn lẫn vào nhau, tạo thành màng đồng nhất với thành phần thiếu lượng nhỏ Cu.
Quá trình ba bước bao gồm đầu tiên là Nguyễn Thanh Nghị 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn tốt nghiệp tạo lớp (In,Ga)Se3 ở nhiệt độ đế thấp (khoảng 300-350oC) và sau đó đồng bốc bay của Cu và Se ở nhiệt độ cao (500-560oC) để tạo ra CIGS giàu đồng. Sau khi bổ sung một lượng (In,Ga)Se3 ta sẽ thu được thành phần màng cuối cùng thiếu một lượng nhỏ Cu. Việc xử lí hơi Se được thực hiện trong quá trình làm lạnh. Tỷ lệ Ga/(Ga+In) thường biến thiên như một hàm của độ dày.
Vì độ rộng vùng cấmcủa CGS cao hơn của CIS, tăng lượng Ga dẫn tới tăng độ rộng vùng cấm từ 1,1 đến 1,2 eV làm cải thiện sự phân ly của các hạt tải tạo bởi hiệu ứng quang điệnmang lại và làm giảm sự tái hợp tại lớp dẫn điện đế.