chương 1, tác giả đã trình bày đề tài đang nghiên cứu một cách tổng quát. Thông qua lý do chọn đề tài, giới thiệu về tình hình nghiên cứu có liên quan đến hành vi mua hàng tại các siêu thị bán lẻ hàng tiêu dùng cùng với mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp và bố cục của nghiên cứu. Những nội dung trên giúp người đọc có được cái nhìn tổng quát về đề tài nghiên cứu, là tiền đề cho việc tìm hiểu lý thuyết liên quan và mô hình nghiên cứu sẽ được trình bày ở chương tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm khách hng Khách hàng hiểu đơn giản là một cá nhân hay tổ chức mà các doanh nghiệp marketing muốn hướng tới.
Họ là người đưa ra quyết định mua hàng hóa hoặc dịch vụ của công ty, doanh nghiệp. Theo cha đẻ của ngành quản trị-Peter F Drucker (1954) đã định nghĩa khách hàng “Là tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó”. Do đó, để có thể phát triển, các doanh nghiệp cần chú trọng công tác quản lý và xây dựng lòng trung thành của khách hàng hiện tại và phát triển đội ngũ khách hàng mới. Tom Peters (1987) xem khách hàng là “tài sản làm tăng giá trị”.
“Đó là tài sản quan trọng nhất mặc dù giá trị của họ không có ghi trong sổ sách doanh nghiệp. Vì vậy các doanh nghiệp phải xem thêm khách hàng như là nguồn vốn cần được quản lý và được phát huy như bất kỳ nguồn vốn nào khác”. Bối cảnh cạnh tranh ngày càng tạo ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp. hành vi của khách hàng thay đổi mạnh mẽ từ phụ thuộc nhiều vào một số sản phẩm dịch vụ sang độc lập hơn, có sự lựa chọn nhiều hơn, yêu cầu cao hơn.
Thực tiễn cho thấy, các doanh nghiệp có chiến luộc, kế hoạch và hành động cụ thể để đầu tư hiệu quả các nguồn nhân lực nhằm thỏa mãn tối ưu nhu cầu của khách hàng, là các doanh nghiệp giành được lợi thế cạnh tranh trong thương trường. Để đạt được mục tiêu chiến lược này đòi hỏi doanh nghiệp cần xây dựng một chiến lược lấy khách hàng làm trọng tam định hướng toàn bộ các hoạt động của mình.2 Chất lượng dịch vụ 2.1 Dịch vụ Theo Phan và cộng sự (1997) lược dịch theo Kotler, “Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là không sờ thấy được và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có hoặc có thể không liên quan đến hàng hóa dưới dạng vật chất của nó”. 9 Ngoài ra còn có những khái niệm khác về dịch vụ như theo Lưu và cộng sự (1997), dịch vụ là một hoạt động mà các nhân tố không hiện hữu để giải quyết các mối quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản của khách hàng đó với người cung cấp dịch vụ mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu tài sản.
Zeithaml và Bitner (2000) cho rằng dịch vụ những hành vi, quá trình nhằm thực hiện một công việc nào đó để tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thõa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Như vậy có thể nhận thấy rằng, dịch vụ là một quá trình mà bên cung cấp tạo ra nhằm mang lại giá trị, thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng Theo định nghĩa của Kotler và Amstrong (2004), dịch vụ là: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Cũng theo Kotler và Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho khách hàng nhằm thu hút sự chú ý, mua, tiêu dùng hay thiết lập, củng cố và mở rộng quan hệ cũng như hợp tác lâu dài với khách hàng.
Dịch vụ là quá trình tạo ra các hoạt động giữa nhà cung cấp và khách hàng, cũng như các hoạt động nội bộ do nhà cung cấp thực hiện để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.2 Đặc điểm của dịch vụ Dựa theo các khái niệm về dịch vụ, người ta rút ra 4 đặc điểm chính của dịch vụ bao gồm: tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời, tính không thể cất trữ. Chính những đặc điểm này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được. Tính vô hình (Intangibility): Vô hình là tính năng chính của dịch vụ. Không giống như các hàng hóa khác, một dịch vụ có thể không được nhìn thấy, nếm, nghe hoặc ngửi trước khi mọi người mua nó.
Dịch vụ không thể đảm bảo chất lượng vì không thể đếm, đo, kiểm tra, xác minh và đếm trước khi bán. Hầu hết các công ty 10 đều cảm thấy khó hiểu cách khách hàng nhìn nhận dịch vụ và đánh giá chất lượng dịch vụ của họ. Tính không đồng nhất (Heterogeneity): Đối với người sản xuất và người tiêu dùng, một hệ quả tất yếu là phải thay đổi hoạt động của dịch vụ. Chất lượng dịch vụ có thể khác nhau tùy thuộc vào nhà cung cấp và thời điểm cũng như cách thức dịch vụ được cung cấp.
Tính không thể tách rời (Inseparability): Trong ngành dịch vụ, cung ứng thường được thực hiện cùng lúc với tiêu thụ, ngược lại với các sự vật cụ thể là được sản xuất trước tiên, và sau đó mới được cung cấp cho người tiêu dùng. Do đó, nhà cung cấp khó che dấu lỗi hay những khiếm khuyết của dịch vụ vì không có khoảng cách thời gian từ sản xuất tới tiêu thụ như sản phẩm hữu hình. Tính không thể lưu trữ (Perishability): Dịch vụ rất khó thực hiện một cách đồng nhất và chính xác theo thời gian mà thường hay thay đổi tùy theo nhà cung cấp, khách hàng, hay thời điểm, địa điểm thực hiện… Đặc tính này của dịch vụ làm cho khó tiêu chuẩn hóa chất lượng dịch vụ giống như là đối với sản phẩm chế tạo.3 Chất lượng dịch vụ Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO8402 (TCVN 5814-94) đã định nghĩa: “Chất lượng toàn toàn bộ những đặc trưng của một sản phẩm hoặc một dịch vụ có khả năng làm thỏa mãn những yêu cầu đã đặt ra hoặc tiềm ẩn”. Nói đến “chất lượng” ta thường nghĩ đến sản phẩm, dịch vụ có giá trị bằng hoặc cao hơn điều mong đợi của người mua.
Điều mong đợi này dựa trên mức độ sử dụng mong muốn và giá bán. Khi một sản phẩm đáp ứng và vượt quá điều mong đợi thì sản phẩm hay dịch vụ đó được coi là có chất lượng. Trong lĩnh vực siêu thị, các doanh nghiệp gần như không thể cạnh tranh về chất lượng sản phẩm mà đơn vị mình kinh doanh, mà phải cạnh tranh quyết liệt về chất lượng dịch vụ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của đơn vị mình. Cho đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về chất lượng dịch vụ, trong đó, mỗi nhà nghiên cứu có một cách nhìn khách nhau về chất lượng dịch vụ.
Trong đó, Parasuraman và cộng sự (1985, 1988) cho rằng: “Chất lượng dịch vụ khoảng cách giữa nhận thức của khách hàng về dịch vụ sau khi sử dụng và mong đợi của họ”. Theo Edvardson 11 (1993), “Chất lượng dịch vụ là mức độ đáp ứng được mong đợi của khách hàng và làm thõa mãn nhu cầu của họ”. Hay Czepiel (1990) lại cho rằng chất lượng dịch vụ là nhận thức của khách hàng về việc làm thế nào một dịch vụ đáp ứng tốt hoặc vượt quá mong đợi của họ. Nhìn chung, các tác giả đều cho rằng chất lượng dịch vụ có liên quan đến nhận thức của khách hàng đến dịch vụ mà họ sử dụng.
Khách hàng cảm nhận dịch vụ thông qua chất lượng và cách nó thõa mãn các mong đợi của khách hàng (Zeithaml và Bitner, 2000). Một số lý thuyết khác như Lehtinen & Lehtinen (1982) cho là chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh: (1) quá trình cung cấp dịch vụ, (2) kết quả của dịch vụ. Gronroos (1984) cũng đề nghị hai lĩnh vực của chất lượng dịch vụ, đó là (1) chất lượng kỹ thuật và (2) chất lượng chức năng. Chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ và chất lượng chức năng nói lên chúng được phục vụ như thế nào (Nguyễn Đình Thọ và cộng sự, 2003).
Vì vậy, chất lượng dịch vụ được định nghĩa là nhận thức của khách hàng về việc làm thế nào một dịch vụ đáp ứng tốt hoặc vượt quá mong đợi của khách hàng. Khi khách hàng đánh giá dịch vụ bán lẻ, họ so sánh nhận thức của họ về dịch vụ với những gì họ trông đợi. Khách hàng thỏa mãn khi dịch vụ nhận được đáp ứng hoặc vượt quá trông đợi của họ. Họ không thỏa mãn khi cảm thấy dịch vụ đáp ứng thấp hơn kỳ vọng của họ.4 Thang đo chất lượng dịch vụ SERVQUAL là thang đo đa mục được xây dựng để đánh giá nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ trong ngành dịch vụ và bán lẻ.
Bên cạnh đó, SERVQUAL thể hiện chất lượng dịch vụ như là sự khác nhau giữa mong đợi của khách hàng về một dịch vụ và nhận thức của khách hàng về dịch vụ thực sự được chuyển giao (Gabbie and O’neill, 1996). SERVQUAL là một phương pháp để xác định và giải quyết các vấn đề liên quan đến chất lượng dịch vụ, được trình bày bởi Parasuraman và cộng sự (1988). Ý tưởng chính dựa trên 5 khoảng cách chủ yếu liên quan đến nhận thức về quản lý chất lượng dịch vụ (tin cậy, đáp ứng, năng lực phục vụ, đồng cảm và phương tiện hữu hình) và những công việc liên quan đến phân phối dịch vụ cho khách hàng, dẫn 12 đến chất lượng dịch vụ thấp hơn mong đợi. Phương pháp này là một trong những công cụ đầu tiên được tạo ra để đánh giá và cải thiện chất lượng dịch vụ nên phổ biến từ rất sớm.1 Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ Nguồn: Parasuraman và cộng sự (1988) Thang đo chất lượng dịch vụ tại hệ thống bán lẻ được Drabholkar và ctg (1996) phát triển và kiểm nghiệm thực tế.