Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản lý. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm dịch vụ Theo Grönroos (1994) thì "dịch vụ có thể là hành động (actions) hoặc kết quả (outcomes) mà một bên có thể cung cấp cho bên kia". Các nghiên cứu khác cho rằng dịch vụ chính là sản phẩm vô hình, có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất (Wang & Niu, 2020), và thường không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó (Alkraiji, 2020b; Bostanc & Erdem, 2020).
Choi và Lee (2020) cho rằng dịch vụ là một quy trình (process), là hành vi (behavior), hoặc cách thực hiện (way to do) một việc nào đó nhằm mang lại lợi ích cho người sử dụng, nó đáp ứng mong muốn cho người sử dụng. Theo Noda (2020) thì kết quả của dịch vụ sẽ xuất hiện khi có sự trao đổi, tiếp xúc giữa người cung cấp (providers) và người tiêu dùng (users), nó mà một chuỗi các hành động cụ thể. Như vậy, hiện nay tồn tại nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến dịch vụ. Nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đồng ý rằng dịch vụ có một số đặc điểm sau: vô hình, không dịch chuyển quyền sỡ hữu, không lưu kho, sản xuất và tiêu dùng đồng thời.
Khái niệm về chất lượng dịch vụ Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến CLDV (service quality). Theo Zhao và Hu (2017) thì CLDV là mức độ mà một loại hình dịch vụ nào đó có thể đáp ứng được nhu cầu (needs) và sự mong đợi (expectations) của người tiêu dùng. Nếu sau khi tiêu dùng (hưởng thụ) một loại hình dịch vụ, nếu khách hàng cảm thấy thoả mãn, hài lòng, có nghĩa là dịch vụ đó đạt chất lượng (Porumbescu, 2017; Reddick, Chatfield, & Ojo, 2017). 7 Nghiên cứu khác cho rằng CLDV là sự chênh lệch giữa giá trị mong đợi (expectation) và giá trị cảm nhận (perception) sau khi tiêu dùng, nếu giá trị cảm nhận lớn hơn giá trị mong đợi thì dịch vụ đạt chất lượng và ngược lại (Osborne, 2020; Osei‐Kojo, 2017).
Do đó, CLDV cũng chính là sự thỏa mãn khách hàng (customer satisfaction) sau khi tiêu dùng, nó có thể được đo bằng chênh lệch (gap) giữa chất lượng mong đợi và chất lượng cảm nhận. Trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là kinh doanh dịch vụ, chất lượng thường được xem là một yếu tố mang tính quyết định đến sự thành công của doanh nghiệp (Kasiri, Cheng, Sambasivan, & Sidin, 2017), vì nếu doanh nghiệp có CLDV cao sẽ tạo sự cạnh tranh mạnh mẽ, và có khả năng tạo lập và duy trì mối quan hệ với khách hàng mà nó cung cấp (Blut, 2016). Quan tâm đến việc cải thiện CLDV sẽ làm cho một doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh (competitiveness) trong lâu dài, và có khả năng phát triển bền vững trong tương lai (Hjortskov, 2017). Dịch vụ công DVC (public service) là loại hình dịch vụ mà cơ quan nhà nước cung cấp cho công dân, nó chính là hoạt động thực thi quyền điều hành của Nhà nước (Võ Kim Sơn, 2014).
Việc cung cấp DVC chính là sự tác động có tổ chức (Vũ Thị Phương, 2018) và là sự điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật (state power) của Nhà nước tới các quá trình xã hội (social procedure) và hành vi của con người (Nguyễn Chu Du, 2018). Quản lý các DVC được thực hiện bởi các CBCC làm việc trong bộ máy nhà nước các cấp (Nguyễn Thị Vân, 2019). Các nhiệm vụ cụ thể trong quản lý và cung cấp DVC bao gồm soạn luận, thi hành và phát triển chính sách (Endang & Hendy, 2020), dự báo nhu cầu người dân, thu thập số liệu thống kê và phân tích (Mehr, Ash, & Fellow, 2017). Các đặc trưng của dịch vụ hành chính công Thứ nhất, DVHCC chỉ có thể do các cơ quan hành chính nhà nước cung cấp hoặc ủy quyền cho một đơn vị tư nhân thực hiện dưới sự giám sát của nhà nước (Lê Thúy Lan, 2018).
Do đó, việc cung ứng DVHCC luôn gắn với thẩm quyền quản lý nhà nước của bất cứ một chế độ nào (Hà Quang Trung, Nguyễn Thanh Hiếu, & Ngô Tất Thắng, 2020). Thứ hai, việc sử dụng DVHCC là bắt buộc đối với công dân một nước, như cấp giấy tờ tùy thân, cấp giấy phép đầu tư. Do đó, việc cung cấp DVHCC cho công dân thể hiện chức năng quản lý nhà nước. Theo Merenda, Trent, Rinke, và Buchanan (2020), càng nhiều công dân sử dụng DVHCC thì việc quản lý nhà nước càng thuận tiện và dễ dàng hơn.
Do đó, một số quốc gia như Singapore, Nhật Bản đang là những quốc gia đi đầu trong việc gỡ bỏ các rào cản, để khuyến khích người dân sử dụng DVHCC. Thứ ba, việc cung ứng DVHCC là phi lợi nhuận, dẫu một số loại hình DVC vẫn có thu phí. Theo Nguyễn Thị Huyền (2020) thì việc thu phí không vì mục đích bù đắp chi phí, mà vì mục đích đảm bảo sự công bằng trong xã hội. Thứ tư, việc tiếp cận mọi loại hình DVHCC là công bằng đối với mọi công dân (Ngô Thạch Thảo Ly, Hồ Kiệt, & Nguyễn Hữu Ngữ, 2019).
Vì thế, các quốc gia hiện đang cung cấp mọi loại DVHCC ngang nhau cho tất cả mọi đối tượng người dân. Các loại hình DVHCC ở Việt Nam Theo Bùi Văn Quyết (2019) thì ở Việt Nam hiện nay có các loại hình DVHCC như sau: Một là, hoạt động cấp các loại giấy phép (license): giấy phép đầu tư, giấy phép lái xe, giấy phép sử dụng đất. Các loại giấy tờ này giúp công dân thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản của mình. 9 Hai là, cấp các loại giấy xác nhận (confirmation), chứng thực (notary public), bao gồm: giấy đăng ký xe, tàu, thuyền; giấy phép lái xe các loại; công chứng, chứng thực; cấp giấy khai sinh, khai tử; giấy đăng ký kết hôn, đăng ký hộ khẩu, hộ tịch.
Ba là, cấp giấy phép đăng ký kinh doanh (business registration certificate) cho cá nhân, tổ chức và chứng chỉ hành nghề (practising certificate) cho các nhân có nhu cầu. Bốn là, hoạt động thu các khoản đóng góp vào ngân sách (government budget) và các quỹ của Nhà nước (state funds). Các hoạt động này gồm việc thu phí và lệ phí khi công dân có nhu cầu sử dụng DVHCC, đây là dịch vụ gắn với quyền mà Nhà nước yêu cầu các chủ thể (công dân, tổ chức) trong xã hội phải thực hiện. Năm là, giải quyết đơn thư khiếu nại (legal complaint), tố cáo (denouncing) của công dân và xử lý các vi phạm hành chính khác, như vi phạm trật tự công cộng.
Chất lượng dịch DVHCC Chất lượng DVHCC là thước đo cho năng lực phục vụ người dân của cơ quan nhà nước. Theo Petrovsky, Mok, và León‐Cázares (2017) thì chất lượng DVHCC là khả năng mà đơn vị cung cấp (cơ quan nhà nước) có thể thỏa mãn nhu cầu của người dân khi sử dụng DVHCC, mà sản phẩm của DVHCC là các quyết định hành chính được ban hành (Ngô Thạch Thảo Ly và cộng sự, 2019). Hiện tại, ở Việt Nam và trên thế giới sử dụng một số tiêu chí để đánh giá chất lượng DVHCC như sau: - Tạo sự tin tưởng (belief) cho người dân khi tham gia sử dụng DVHCC: thời gian giải quyết hồ sơ (Bùi Văn Quyết, 2019), sự chính xác của kết quả giải quyết (Võ Kim Sơn, 2014). - Điều kiện phục vụ người dân tốt, đảm bảo: trang thiết bị, trụ sở làm việc (Lê Thúy Lan, 2018).
10 - Yếu tố con người: CBCC có đủ năng lực phục vụ nhân dân, có đủ kiến thức chuyên môn trong công việc được giao phó (Phạm Văn Phong & Bùi Trường Vinh, 2018). - Sự đồng cảm: Thái độ làm việc, phép lịch sự, chu đáo, ân cần trong công việc (Bùi Văn Minh, 2017). - Sự đảm bảo: tính linh hoạt trong công vụ, quan tâm đến khó khăn của người dân, gắn kết giữa CBCC và người dân (Osborne, 2018). - Yếu tố khác: sự đơn giản trong quy trình, yếu tố giao thông thuận lợi, trụ sở dễ tìm kiếm(Christensen, Paarlberg, & Perry, 2017).
Các lý thuyết liên quan đến sự hài lòng khách hàng 2. Mô hình năm khoảng cách (five gaps model) Mô hình này được Anantharanthan Parasuraman, Berry, và Zeithaml (1991) đề xuất khi nghiên cứu CLDV trong ngành bán lẻ. Đây là một trong những mô hình nổi tiếng nhất khi nghiên cứu về CLDV (Phan Chí Anh, Nguyễn Thu Hà, & Nguyễn Huệ Minh, 2013).1 dưới đây mô tả chi tiết mô hình 5 khoản cách trong đo lường CLDV. Khoảng cách 1: Là khoảng cách (gap) giữa kỳ vọng của khách hàng (customer) và cảm nhận của nhà cung cấp dịch vụ (service provider).
Khoảng cách 2: Khoảng cách này được tạo ra khi người cung cấp dịch vụ hiểu đúng kỳ vọng của khách hàng, nhưng sai sót khi đưa ra các tiêu chí cho sản phẩm. Khoảng cách 3: Xảy ra khi nhân viên tiếp thị, giới thiệu sản phẩm cho khách hàng không chính xác, không đúng tiêu chí sản phẩm. Đối với khoản cách này, vai trò của nhân viên rất quan trọng. Khoảng cách 4: Xảy ra khi dịch vụ chuyển giao (service transfer) và thông tin mà khách hàng nhận được không chính xác.
Thông tin này có thể làm tăng kỳ vọng (expectation), nhưng cũng có thể làm giảm CLDV cảm nhận (perception) khi khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ. 11 Khoảng cách 5: là khoảng cách giữa những gì khách hàng kỳ vọng và khách hàng cảm nhận sau khi sử dụng dịch vụ. Khi nói đến CLDV, chúng ta ám chỉ khoảng cách thứ 5, và đó cũng là tổng của 4 khoảng cách trước. Mô hình CLDV của Parasuraman Nguồn: dẫn theo Phan Chí Anh và cộng sự (2013) 2.
Thang đo CLDV SERVQUAL Mô hình CLDV năm khoảng cách của Anantharanthan Parasuraman và cộng sự (1991) là một mô hình tổng thể dùng để đánh giá về chất lượng của một dịch vụ điển hình. Tuy nhiên, trong thực tế mô hình này mang tính lý 12 thuyết nhiều hơn thực tiễn, do đó rất khó thực nghiệm trong nghiên cứu (Song, An, & Meier, 2020). Từ mô hình 5 khoảng cách trên, Arun Parasuraman, Berry, và Zeithaml (1993) đã phát triển một thang đo mới, dùng để triển khai nghiên cứu CLDV, đặt tên là thang đo SERVQUAL gồm 21 biến quan sát (observed variables) dùng để đo lường 5 thành phần (latent variable) của CLDV, gồm: (1)- Độ tin cậy (Reliability). Mô hình thang đo SERVQUAL hiện tại được sử dụng khá phổ biến để đo lường CLDV trong nhiều ngành nghề.
Các nhà nghiên cứu cho rằng đây là thang đo hoàn chỉnh về CLDV vì nó đạt giá trị và độ tin cậy cao (Raza, Umer, Qureshi, & Dahri, 2020), và có thể được ứng dụng cho nhiều loại hình dịch vụ khác nhau (Prentkovskis và cộng sự, 2018).