BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ CẠNH TRANH ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH MÃ SỐ: 9340101 NĂM 2023 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ CẠNH TRANH ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH MÃ SỐ: 9340101 NĂM 2023 TÓM TẮT Cạnh tranh là hoạt động tất yếu trong quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Do đó, nghiên cứu về mức độ cạnh tranh và ảnh hưởng của nó đến hoạt động của doanh nghiệp luôn là chủ đề quan trọng và cấp thiết; đặc biệt ở những nền kinh tế chuyển đổi. Việt Nam là một kinh tế chuyển đổi điển hình, có sự gia tăng đáng kể về mức độ cạnh tranh trên thị trường do cải cách kinh tế và mở cửa ngoại thương. Tuy nhiên, chủ đề này hiện vẫn chưa được nhận thức đầy đủ ở nước ta, với số lượng nghiên cứu thực nghiệm còn rất hạn chế và chỉ tập trung ở lĩnh vực ngân hàng.
Mặt khác, thị trường vốn ở Việt Nam còn non trẻ nên nợ vay vẫn là nguồn tài trợ quan trọng và phổ biến nhất để doanh nghiệp ứng phó cạnh tranh (Nasir, 2021; Chau và ctv. Xuất phát từ thực tiễn này, luận án được hình thành nhằm nghiên cứu để cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của mức độ cạnh tranh lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phi tài chính ở Việt Nam và ảnh hưởng điều tiết của mức độ cạnh tranh lên mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động. Để kiểm tra ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng điều tiết của mức độ cạnh tranh đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, luận án sử dụng bộ dữ liệu bảng gồm 352 doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2015-2019, với 1. Trong đó, mức độ cạnh tranh được đo lường bằng chỉ số Boone – phần trăm suy giảm của lợi nhuận khi chi phí biên tăng một phần trăm.
Thước đo cạnh tranh này không chỉ khắc phục được điểm yếu của nhóm chỉ số cấu trúc mà còn rất phù hợp với điều kiện nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam. Hiệu quả hoạt động được đo lường bằng tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS) nhằm phản ánh hiệu quả hoạt động cả về mặt tài chính lẫn quản lý điều hành và kiểm tra được độ chuẩn xác của kết quả nghiên cứu. Mặc dù dữ liệu bảng phản ánh bản chất động của hiệu quả nhưng lại tiềm ẩn vấn đề nội sinh, tính không đồng nhất không quan sát được và tự tương quan. Do đó, hồi quy GMM hệ thống hai bước được áp dụng để giải quyết các vấn đề trên.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ phi tuyến dạng chữ U ngược giữa mức độ cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo đó, cạnh tranh gia tăng sẽ tạo ra áp lực buộc doanh nghiệp tìm cách giảm thiểu chi phí, nâng cao chất lượng đầu ra và thực hiện đa dạng hóa sản phẩm. Mức độ cạnh tranh trên thị trường gia tăng còn giúp giảm thiểu xung đột nội bộ, tạo động lực cho nhà quản trị làm việc chăm chỉ và cẩn trọng hơn nhằm tránh đưa doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản và bản thân bị sa thải. Tuy nhiên, khi mức độ cạnh tranh cao vượt ngưỡng tối ưu thì hiệu quả hoạt động sẽ suy giảm.
Cạnh tranh trên thị trường gay gắt khiến chi phí hoạt động của doanh nghiệp tăng cao và nó cũng không còn là động lực phù hợp cho nhà quản trị. Ở những thị trường cạnh tranh cao độ, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng trở nên kém bền vững và ngắn hạn hơn; vì vậy, doanh nghiệp phải tiêu tốn nhiều nguồn lực hơn trong việc giữ i chân khách hàng hiện tại cũng như thu hút khách hàng mới. Bên cạnh đó, mức độ cạnh tranh quá cao có thể dẫn đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh và những cuộc chiến giá cả khốc liệt, gây tổn thất nghiêm trọng cho doanh nghiệp. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cho thấy mức độ cạnh tranh có ảnh hưởng điều tiết tiêu cực lên mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Theo đó, tác động tiêu cực của đòn bẩy tài chính đến hiệu quả hoạt động sẽ trầm trọng hơn khi mức độ cạnh tranh trên thị trường gia tăng. Dưới áp lực cạnh tranh, các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao phải cắt giảm nợ vay để tránh vỡ nợ, làm giảm ảnh hưởng kỷ luật của nợ và đánh mất nhiều lợi ích từ khấu trừ thuế. Mức độ cạnh tranh cao hơn tạo ra môi trường kinh doanh rủi ro hơn và khiến các khoản nợ trở nên đắt đỏ hơn; đặc biệt đối với những doanh nghiệp đã có đòn bẩy tài chính cao trước đó. Các doanh nghiệp này phải gánh chịu cùng lúc áp lực trả nợ và áp lực cạnh tranh trên thị trường.
Mặt khác, thị trường có mức độ cạnh tranh càng cao thì rủi ro và sự không chắc chắn càng lớn, khiến doanh nghiệp có mức nợ cao thường hạn chế đầu tư vì lo sợ vỡ nợ, dẫn đến tình trạng đầu tư dưới mức tối ưu và làm tăng chi phí đại diện. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cho thấy tăng trưởng doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động ở năm trước và tăng trưởng GDP của Việt Nam có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động trong khi tài sản cố định lại có tác động tiêu cực. Đối với mẫu nghiên cứu của luận án, các doanh nghiệp dịch vụ hoạt động hiệu quả hơn các doanh nghiệp sản xuất và thương mại. Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp.
Ảnh hưởng phi tuyến dạng chữ U ngược của mức độ cạnh tranh đến hiệu quả hoạt động ngụ ý rằng Chính Phủ nên điều tiết cạnh tranh thị trường tiệm cận nhưng không vượt quá ngưỡng cạnh tranh tối ưu. Khi mức độ cạnh tranh thấp hơn ngưỡng tối ưu, Chính Phủ nên giảm các rào cản gia nhập để khuyến khích doanh nghiệp mới và tạo động lực cho những doanh nghiệp hiện có nhằm gia tăng cạnh tranh trên thị trường. Ngược lại, khi mức độ cạnh tranh trên thị trường cao vượt quá ngưỡng tối ưu thì Chính Phủ nên thắt chặt các quy định về quản lý hoạt động của doanh nghiệp để loại dần những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả; đồng thời, ngăn việc gia nhập mới của những doanh nghiệp yếu kém nhằm giảm mức độ cạnh tranh trên thị trường. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh để thích nghi tốt hơn với sự thay đổi mức độ cạnh tranh trên thị trường và hoạt động hiệu quả.
Mặt khác, doanh nghiệp cần tối ưu hóa việc sử dụng tài sản cố định qua việc lập kế hoạch và ứng dụng lý thuyết đầu tư theo quan điểm quyền chọn thực trong đầu tư tài sản cố định. Ngoài ra, doanh nghiệp không nên sử dụng quá nhiều nợ vay nhằm giảm áp lực tài chính phải gánh vác và tránh sự nghi ngờ của khách hàng về chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao. Từ khóa: Cạnh tranh, hiệu quả hoạt động, chỉ số Boone, nền kinh tế chuyển đổi, Việt Nam. ii ABSTRACT Since firms have to compete to survive and thrive, that product market competition hinders or spurs firm performance has been the central issue, especially in transition economies (e.
According to Estrin et al. (2009), transition countries seem to be empirical laboratories to evaluate changes in economic systems from centrally- planned economies into oriented-market ones, including significant shifts of competition. Vietnam is a typical transition country, that market competition has changed significantly over the past decades. However, this issue has not got sufficient awareness by researchers in Vietnam, especially in the non-financial sector.
Therefore, it is worthwhile to study further the effect of competition on firm performance in this country. Since the Vietnamese capital market remains young (Nasir, 2021), it fails to play the full role of a capital channel in the country. As a result, the banking system becomes the principal financing source for its firms (Chau et al. That stimulates me to conduct this dissertation to contribute to the extant literature by providing firsthand evidence of the relationship between product market competition and firm performance and the moderating effect of competition on the leverage-performance nexus in Vietnam.
The aim of this dissertation is to clarify the effect of competition on firm performance in Vietnam using a panel dataset of 352 firms randomly retrieved from Vietnam’s Stock Exchanges in the 2015–2019 period. Besides examining the direct competition-performance nexus, the dissertation also estimates the moderating effect of market competition on the relationship between financial leverage and firm performance. Therein, market competition is measured by the Boone indicator, which helps avoid potential drawbacks of the concentration indexes and is appropriate for studying in transition countries. Firm performance is measured by return on assets (ROA), return on equity (ROE), and return on sales (ROS) to capture the performance in both financial and operating aspects and to test the robustness of the findings.
Although the dataset captures the dynamic nature of firm performance, it is affected by endogeneity, unobserved heterogeneity, and autocorrelation. Thus, the two-step system GMM model is used to solve the problems when estimating both the competition- performance nexus and the performance effect of leverage on the competition intensity. The findings reveal an inverted U-shaped relationship between competition and firm performance. A higher level of competition generates pressures that force firms to mitigate costs, improve output quality, and diversify products.
Increased competition helps firms minimize internal conflicts. It also creates incentives for managers to work harder to avoid bankruptcy and losing their job. However, if the intensity of competition goes beyond the optimal threshold, the performance will plunge. Intense competition pushes up costs and deprives the motivation of the firms’ managers.
In intensely iii competitive markets, firm-client relationships become unstable and short-lived, so the firms have to devote more resources to retaining current customers and attracting new ones. Moreover, the fierce intensity of competition may result in unfair competition and cruel price wars, which leads to unexpected losses for the firms. The estimation results also divulge that financial leverage negatively impacts firm performance, and product market competition hurts the benefits of the leverage to the performance. Under competition pressure, firms may reduce their leverage, leading to a decline in the disciplining effect of debt.
There is a noticeable decrease in advantages arising from tax deductibility. The higher competition also creates higher-risk business environments, especially for high-leverage firms. Under competitive pressure, leveraged firms suffer higher levels of risk and have uncertain outcomes. Debts become expensive as competition rises, giving rise to increases in agency problems and suboptimal investments.