Chương 1 đã làm rõ được lý do thực hiện đề tài dựa trên việc tìm ra khoảng trống nghiên cứu khi lược khảo những công trình nghiên cứu trước đây. Về mục tiêu nghiên cứu, luận án được thực hiện nhằm mục tiêu nghiên cứu ảnh hưởng của bất định tỷ giá hối đoái, cũng như sự tương tác của nó với phát triển tài chính, đến đầu tư trực tiếp nước ngoài ở những chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau để từ đó phân tích sâu sắc hơn những bằng chứng khoa học về mặt thực nghiệm Về phạm vi nghiên cứu, nghiên cứu được tiến hành tại 114 quốc gia từ năm 2000 đến năm 2021. Bộ dữ liệu nghiên cứu được phân thành nhóm 57 quốc gia có chế độ tỷ giá neo mềm và nhóm 57 quốc gia có chế độ tỷ giá thả nổi. Với phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, thông qua mô hình dữ liệu dạng bảng và phương pháp ước lượng Bayes.
4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Một số khái niệm 2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo OECD (2008), đầu tư trực tiếp nước ngoài được định nghĩa là loại hình đầu tư dùng để chỉ sự luân chuyển vốn từ quốc gia đầu tư sang quốc gia nhận đầu tư để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở quốc gia nhận đầu tư nhằm mục đích có tiếng nói hữu hiệu trong quản lý doanh nghiệp. Tỷ giá hối đoái và chế độ tỷ giá hối đoái 2.
Khái niệm tỷ giá hối đoái Luận án chỉ sử dụng tỷ giá thực đa phương (REER) làm thước đo chung cho tỷ giá hối đoái được sử dụng trong mô hình nghiên cứu. Theo Darvas (2021), tỷ giá thực đa phương được tính như sau: NEER.1) Pw n i NEER NBERiw (2.2) i 1 n n EX i IM i P Pi ; wi 1; w i w wi i1 EX i IM i n (2.3) i 1 j 1 Trong đó, NEER , NBER là tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa phương và song phương yết giá gián tiếp, 𝑃𝑤 là mức giá trung bình trọng số hình học của các đối tác thương mại, 𝑃ℎ là giá cả trong nước bằng nội tệ, 𝑤 (𝑖) là trọng số thương mại; 𝐸𝑋𝑖 và 𝐼𝑀𝑖 là xuất khẩu và nhập khẩu của quốc gia được xem xét từ quốc gia i. Chế độ tỷ giá hối đoái Hệ thống tỷ giá hối đoái ngày nay còn được gọi là hệ thống tỷ giá hỗn hợp. Các quốc gia theo đuổi các chế độ tỷ giá hối đoái, trên danh nghĩa bao gồm chế độ thả nổi, chế độ cố định và chế độ thả nổi có quản lý.
Bất định tỷ giá hối đoái Furceri & Borelli (2008) đã sử dụng ba phương pháp đo lường về bất định của tỷ giá hối đoái. Thước đo độ biến động tỷ giá hối đoái đầu tiên là độ lệch chuẩn theo tháng của sự thay đổi tỷ giá hối đoái (σ). Thước đo thứ hai là trung bình số học của tỷ số phần trăm thay đổi tỷ giá hối đoái theo tháng (Δ). Thước đo thứ ba về bất định của tỷ giá hối đoái là đo lường điểm số Z-scores do Ghosh và cộng sự (2003) đề xuất.
Các thước đo này được công thức hóa như sau: Exr Exr k 2 t (2.4) t 1 Exr Exrt 1 Exrt k 2 Exrt k 1 Δ k 1 1 t 1 1 (2.5) Exrt 1 Exr t k 1 Z score 2 Δ2 (2. Phát triển tài chính Nguồn: Svirydzenka (2016) Hình 2. Đo lường phát triển tài chính của Svirydzenka (2016) Čihák và cộng sự (2012) đã tiếp cận và đo lường phát triển tài chính đa chiều hơn so với những nghiên cứu trước đây. Phát triển tài chính được định nghĩa là sự kết hợp của chiều sâu đại diện cho quy mô và tính thanh khoản của thị trường; khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính; sự hiệu quả đo lường mức độ hoạt động của thị trường vốn, đồng thời đo lường khả năng của các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính với chi phí thấp và có nguồn thu bền vững; và sự ổn định của hệ thống tài chính.
Svirydzenka (2016) đã tiếp tục phát triển nền tảng đa chiều này để xây dựng bộ dữ liệu phát triển tài chính được IMF cập nhật thường xuyên và công bố miễn phí. Bộ dữ liệu do Svirydzenka (2016) xây dựng không bao gồm sự ổn định tài chính như của Čihák và cộng sự (2012) nhưng đã khái quát hóa được chỉ số tổng hợp là phát triển định chế tài chính và phát triển thị trường tài chính từ các chỉ số thành phần của phát triển tài chính. Lý thuyết các yếu tố đẩy và kéo Nguồn: Thiết kế bởi tác giả Hình 2. Các yếu tố đẩy và kéo của Fernández-Arias (1996) được áp dụng vào luận án 6 2.
Tăng trưởng thu nhập bình quân Ảnh hưởng cùng chiều của tăng trưởng kinh tế đến đầu tư trực tiếp nước ngoài được tìm thấy ở rất nhiều nghiên cứu (Rhadbane & Moudden, 2022; Nguyen & Cieślik, 2021; Moraghen và cộng sự, 2020; Siddikee & Rahman, 2020; Rjoub và cộng sự, 2017; Kottaridi & Stengos 2010; Bevan & cộng sự, 2004; Chakrabarti, 2001; Culem, 1988) 2. Cung tiền Lập luận về ảnh hưởng cùng chiều của cung tiền đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài được ủng hộ bởi một số công trình nghiên cứu khoa học (Tien và cộng sự, 2022; Shafiq và cộng sự, 2015; Fu & Liu, 2015; Ahmed & Zlate, 2014) 2. Lạm phát Tien và cộng sự (2022) đã tìm ra ảnh hưởng ngược chiều của lạm phát đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các quốc gia mới nổi từ năm 2002 đến năm 2019. Kết quả tương đồng được tìm thấy trong các công trình nghiên cứu trước đó (Nguyen & Cieślik, 2021; Smith, 2021; Gao và cộng sự, 2021; Hoang, 2021; Rafidi & Verikios, 2021; Akisik, 2020; Yavas & Malladi, 2020; Asamoah và cộng sự, 2019).
Độ mở thương mại Độ mở thương mại càng lớn thì khối lượng giao thương càng lớn, sự hội nhập sâu rộng và sức mạnh thị trường sẽ hấp dẫn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mối quan hệ giữa độ mở thương mại và FDI cũng không hoàn toàn rõ ràng (Dhakal và cộng sự, 2010). Tỷ giá hối đoái Goldberg (2009) đã giải thích tác động của tỷ giá hối đoái đến đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua kênh tiền lương tương đối (relative wage), kênh tài sản tương đối (relative wealth), và thị trường vốn không hoàn hảo (imperfect capital market). Phát triển tài chính Hầu hết các nghiên cứu gần đây ủng hộ tác động cùng chiều của phát triển tài chính trong nước đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Haque và cộng sự, 2022; Doan & Bui, 2021; Islam và cộng sự; 2020; Pradhan và cộng sự, 2019; Jehan & Hamid, 2017; Kaur và cộng sự, 2013; Ezeoha & Cattaneo, 2012; Lee & Chang, 2009).
Yohanna (2013) là tác giả hiếm hoi ủng hộ ảnh hưởng ngược chiều của phát triển tài chính. Bất định tỷ giá hối đoái Hầu hết các nghiên cứu trước đây đã tìm ra những tác động cùng chiều (Jamal & Bhat, 2022; Nguyen & Cieślik, 2021; Nadine và cộng sự, 2021; Ramzan, 2021), ngược chiều (Havi, 2021; Huong và cộng sự, 2021; Shetty và cộng sự, 2019) và thậm chí là không thể xác định (Moraghen và cộng sự, 2020; Zerrin, 2018). Theo đó, lý thuyết về tính linh hoạt của sản xuất ủng hộ ảnh hưởng cùng chiều của bất định tỷ giá hối đoái và lý thuyết lo ngại rủi ro ủng hộ cho tác động ngược chiều. Mặt khác, một số lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng ảnh hưởng cùng chiều và ngược chiều có thể cùng tồn tại trong một số điều kiện nhất định (Tien và cộng sự, 2022; Balaban và cộng sự, 2019; Jeanneret, 2007; Darby và cộng sự, 1999).
Lý thuyết lo ngại rủi ro Theo lý thuyết ngại rủi ro, đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm khi bất định của tỷ giá hối đoái tăng. Dixit & Pindyck (1994) cho rằng hầu hết các khoản chi đầu tư đều có hai đặc điểm quan trọng. Thứ nhất, đầu tư không thể bị đảo ngược. Thứ hai, đầu tư có 7 thể bị trì hoãn, cho phép nhà đầu tư chờ đợi thông tin mới về giá cả, chi phí và các điều kiện thị trường khác trước khi cam kết các nguồn lực.
Mô hình lý thuyết quyền chọn thực của Dixit & Pindyck (1994) ủng hộ hoàn toàn lý thuyết lo ngại rủi ro. Lý thuyết tóm gọn của Barrell và cộng sự (2007) minh họa cho lý thuyết lo ngại rủi ro như sau: Một công ty đa quốc gia sẽ quyết định đầu tư I vào các quốc gia A và B dựa trên sự tối đa hóa hiện giá của hữu dụng từ lợi nhuận của mình: Vt e rt U E .7) 0 Trong đó, hàm lợi nhuận của một công ty được giả định là 𝜋(. )] lần lượt là giá trị kỳ vọng của lợi nhuận và phương sai của lợi nhuận. Trong trường hợp công ty lo ngại rủi ro (risk-averse), hữu dụng 𝑈 (𝐸 [𝜋(.
)]) sẽ đạt được khi gia tăng giá trị kỳ vọng của lợi nhuận 𝐸 [𝜋(. )] và giảm giá trị của phương sai 𝑉𝑎𝑟[𝜋(. )]; r là tỷ suất chiết khấu không đổi theo thời gian; 𝐶 (𝐼𝐴 𝐼𝐵 ) là chi phí vốn điều chỉnh, được ước tính bởi Hayashi (1982). Xuất phát từ giải pháp bài toán tối ưu của Hamilton và các giả định bổ sung về hàm lợi nhuận, giá cả và sản lượng thị trường, đạo hàm của đầu tư theo bất định tỷ giá: 1 2 I i s a 1 1 i 1 qi2,k dt 0 (2.8) 0 òi Trong đó, là bất định tỷ giá hối đoái, với tỷ giá hối đoái được yết giá trực tiếp; 𝑞𝑘,𝑖 là đầu tư của công ty vào ngành k ở quốc gia i; 𝜖𝑖 là hệ số co giãn của tổng cầu ở quốc gia i; 𝑠𝑖 = 𝑞𝑖 /𝑄 𝑖 là thị phần của công ty tại quốc gia I; 𝑞𝑖,𝑘 là là sản lượng trong ngành k tại quốc gia i; 𝑄 𝑖,𝑘 tổng sản lượng ngành k tại quốc gia i; 𝛾 > 0 là hệ số ước lượng chi phí được đề xuất bởi Hayashi (1982).