chương 1 để thu thập và phân tích chuỗi số liệu các yếu tố ảnh hưởng đến an ninh năng lượng cảu Việt Nam theo từng năm Sinh viên: Phạm Bá Nam_D10 QLNL 17 Phân tích an ninh năng lượng Việt Nam CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG CỦA VIỆT NAM 2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 2. Vị trí địa lý Lãnh thổ Việt Nam bao gồm hai bộ phận: phần đất liền (diện tích 330.991 km2) và phần biển rộng lớn gấp nhiều lần so với phần đất liền. - Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa.
Đặc điểm đó đã làm cho thiên nhiên nước ta khác hẳn với các nước có cùng vĩ độ ở Tây Á, Đông Phi, Tây Phi và tác động sâu sắc tới các hoạt động kinh tế. - Việt Nam nằm ở phía Đông bán đảo Đông Dương, gần trung tâm Đông Nam Á, có một vùng biển rộng lớn giàu tiềm năng. Vị trí tiếp giáp trên đất liền và trên biển làm cho nước ta có thể dễ dàng giao lưu về kinh tế và văn hoá với nhiều nước trên thế giới. - Việt Nam nằm ở khu vực đang diễn ra những hoạt động kinh tế sôi động của thế giới.
Nền kinh tế của các nước trong khu vực đứng đầu là Singapore, sau đó là Malaysia, Thái Lan, Indonesia có nhiều chuyển biến đáng kể và ngày càng chiếm vị trí cao hơn trong nền kinh tế toàn cầu cũng như ở châu Á – Thái Bình Dương. Trong nhiều năm liên tục trước cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra vào nửa sau thập kỷ 90, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước trong khu vực đạt khá cao. Vị thế của ASEAN ngày càng được khẳng định. Tài nguyên thiên nhiên Nước ta có sự đa dạng về tài nguyên thiên nhiên.
Ở trình độ phát triển kinh tế như hiện nay, tài nguyên đất giữ vị trí quan trọng. Việt Nam có khoảng 8,0 triệu ha đất nông nghiệp, bao gồm đất ở đồng bằng, ở các bồn địa giữa núi, ở đồi núi thấp và các cao nguyên. Nguồn nhiệt ẩm lớn, tiềm năng nước dồi dào, số lượng các giống loài động, thực vật biển và trên cạn khá phong phú, nguồn khoáng sản đa dạng v.v… là những thuận lợi mà thiên nhiên đã dành cho chúng ta. Sinh viên: Phạm Bá Nam_D10 QLNL 18 Phân tích an ninh năng lượng Việt Nam Tuy nhiên, nước ta cũng có nhiều tai biến do thiên nhiên gây ra như bão, lũ lụt, hạn hán v.v… Gần như không năm nào không có thiên tai gây ra những tổn thất nhất định cho nền kinh tế và cho đời sống nhân dân ở vùng này hay vùng khác.
Do vị trí địa lý của Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều, nên đất nước ta có nguồn tài nguyên thủy năng tương đối lớn. Phân bố địa hình trải dài từ Bắc vào Nam với bờ biển hơn 3400 km cùng với sự thay đổi cao độ từ hơn 3100 m cho đến độ cao mặt biển đã tạo ra nguồn thế năng to lớn do chênh lệch địa hình tạo ra. Nhiều nghiên cứu đánh giá đã chỉ ra rằng, Việt Nam có thể khai thác được nguồn công suất thủy điện vào khoảng 25.000 MW, tương ứng với khoảng 90 -100 tỷ kWh điện năng. Tuy nhiên, trên thực tế, tiềm năng về công suất thủy điện có thể khai thác còn nhiều hơn.Theo kinh nghiệm khai thác thủy điện trên thế giới, công suất thủy điện ở Việt Nam có thể khai thác trong tương lai có thể bằng từ 30.000 MW và điện năng có thể khai thác được 100 - 110 tỷ kWh.
Khoáng sản là một loại tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa đặc biệt đối với việc phát triển kinh tế - xã hội. Nhìn chung, ở nước ta nhiều loại khoáng sản phân tán theo không gian và phân bố không đều về trữ lượng. Một số khoáng sản với trữ lượng đáng kể như: boxit, vật liệu xây dựng, dầu khí, sắt v.v… tuy mới được khai thác bước đầu nhưng đã tỏ ra có hiệu quả. Việc khai thác và sử dụng các nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên có quan hệ mật thiết với trình độ phát triển của khoa học – kỹ thuật và công nghệ, cũng như phụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư.
Trên một đơn vị diện tích, số lượng tài nguyên nhiều, trữ lượng nhỏ lại phân tán như trong điều kiện hiện nay, có thể là một khó khăn. Song nếu áp dụng công nghệ khai thác tài nguyên tiên tiến trên quan điểm kinh tế tổng hợp, thì mức độ tập trung tài nguyên như đã nêu ở trên lại có thể coi là một thế mạnh. Nhờ có trữ lượng nhiên liệu hóa thạch lớn lên ngành công nghiệp nhiệt điện ở Việt Nam phát triển rất nhanh và mạnh, đặc biệt là nhiệt điện than.Cụ thể, từ năm 1981 đến nay đã có tới gần 30 nhà máy nhiệt điện than được xây dựng và đưa vào hoạt động. Dự kiến giai đoạn Sinh viên: Phạm Bá Nam_D10 QLNL 19 Phân tích an ninh năng lượng Việt Nam 2018-2022, tổng công suất các nguồn điện đưa vào vận hành là 34.864 MW; trong đó nhiệt điện than là 26.
Tuy rằng, tương lai của các nguồn năng lượng tái tạo ở Việt Nam rất rộng mở, song nếu xét trên thực tế nhu cầu dùng điện tăng cao, nếu không phát triển nhiệt điện than sẽ không đủ điện để đáp ứng phát triển kinh tế xã hội. Nhiệt điện than vẫn là nguồn phát điện hợp lý nhất, hiệu quả nhất để đáp ứng nhu cầu điện năng rất lớn của đất nước Cho đến gần đây, những hậu quả của chiến tranh để lại và nhất là việc khai thác không hợp lý tài nguyên ở nước ta đã dẫn đến tình trạng nhiều loại bị suy giảm nghiêm trọng. Thực trạng khai thác tài nguyên ở Việt Nam rất khác nhau. Trong khi tài nguyên biển chưa sử dụng được bao nhiêu thì nhiều loại tài nguyên khác lại bị khai thác quá mức.
Tài nguyên rừng bị tàn phá nghiêm trọng nhất. Hiện nay, độ che phủ của rừng đang ở mức báo động. Rừng chỉ còn chiếm 32% diện tích cả nước (1999). Đất đai nhiều vùng bị sói mòn, diện tích đất trồng, đồi trọc tăng lên đáng kể.
Nhiều hệ sinh thái rừng, nhất là ở khu vực ven biển, đầu nguồn và cửa sông bị phá hoại nặng nề. Nguồn gen động vật, thực vật bị giảm sút mạnh. Sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên trước hết là hậu quả trực tiếp của việc khai thác bừa bãi, không theo một chiến lược nhất định. Sau nữa là trình độ công nghệ khai thác của nước ta còn kém phát triển.
Vì thế, tài nguyên bị lãng phí mà chi phí khai thác lại cao. Tài nguyên thiên nhiên là một trong những nguồn lực cơ bản trong việc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, vấn đề sử dụng hợp lí đi đôi với việc bảo về và tái tạo tài nguyên thiên nhiên đang được đặt ra nhằm đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho sự phát triển bền vững của Việt Nam hiện tại và trong tương lai. Khái quát về tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam 2.
Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 2. Tổng quan Tình hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1990-2018 có sự tăng trưởng mạnh. Với mục tiêu lấy công nghiệp và thương mại dịch vụ làm chiến lược trọng tâm trong việc phát triển kinh tế vùng nên cả hai ngành đã và đang chiếm một tỉ trọng rất lớn trong nền kinh tế Việt Sinh viên: Phạm Bá Nam_D10 QLNL 20 Phân tích an ninh năng lượng Việt Nam Nam. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình của nước ta là 6.83 %/năm, GDP tăng từ 29.24 (Tỷ USD) năm 2017 gấp tới gần 6 lần.
Cụ thể như sau: Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam (1990-2017) GDP (Tỷ Tốc độ tăng trưởng Năm USD) (%) 1990 29,46 1991 31,21 5,94% 1992 33,91 8,65% 1993 36,65 8,08% 1994 39,89 8,84% 1995 43,7 9,55% 1996 47,78 9,34% 1997 51,67 8,14% 1998 54,65 5,77% 1999 57,26 4,78% 2000 61,15 6,79% 2001 64,93 6,18% 2002 69,04 6,33% 2003 73,8 6,89% 2004 79,36 7,53% 2005 85,35 7,55% 2006 91,31 6,98% 2007 97,82 7,13% 2008 103,36 5,66% 2009 108,94 5,40% 2010 115,93 6,42% 2011 123,17 6,25% 2012 129,63 5,24% 2013 136,66 5,42% 2014 144,84 5,99% 2015 154,51 6,68% 2016 164,11 6,21% 2017 175,24 6,78% (Nguồn: www.org) Sinh viên: Phạm Bá Nam_D10 QLNL 21 Phân tích an ninh năng lượng Việt Nam (Tỷ USD) Tốc độ tăng trưởng (%) Hình 2.1: Đồ thị GDP và tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam (1990-2017) (Nguồn: www.org) Thông qua biểu đồ trên ta có thể thấy được sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế tỉnh Việt Nam nhưng không ổn định. Nhờ đổi mới, sản xuất lương thực đạt được kết quả thần kỳ, dầu thô khai thác và xuất khẩu,. Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, bước vào giai đoạn ổn định và phát triển. Tăng trưởng kinh tế của thời kỳ 1992-1997 đã cao gấp hơn hai lần của thời kỳ 1977-1991 (8,77%/năm so với 4,07%/năm).
Lạm phát của thời kỳ này cũng đã giảm mạnh so với thời kỳ 1986-1991 (bình quân năm là 9,5% so với 180,2%). GDP bình quân đầu người tính bằng USD năm 1997 đạt 361 USD, cao gấp gần 4,2 lần năm 1988. Việt Nam đã chuyển vị thế từ nước kém phát triển sang nhóm nước đang phát triển, từ chỗ bị bao vây, cấm vận sang bước đầu mở cửa hội nhập.Tốc độ tăng trưởng GDP có suy giảm do khủng hoảng kinh tế giai đoạn 2012- 2014. Nhưng sau đó GDP lại tiếp tục gia tăng với tốc độ trung bình 6.
Thực trạng các ngành kinh tế chủ yếu Trong giai đoạn 2005-2017 như đã nêu trên, tình hình kinh tế Việt Nam có nhiều sự tăng trưởng mạnh. Với mục tiêu lấy công nghiệp và thương mại dịch vụ làm chiến lược trọng tâm trong việc phát triển kinh tế vùng nên cả hai ngành đã và đang có tổng sản phẩm quốc nội GDP rất lớn trong nền kinh tế cả nước qua các năm. Cụ thể như sau: Sinh viên: Phạm Bá Nam_D10 QLNL 22 Phân tích an ninh năng lượng Việt Nam Bảng 2.2: GDP theo khu vực kinh tế của Việt Nam (1990-2018) Giá trị (Tỷ đồng) Nông, lâm Thuế sản Năm Công nghiệp Tổng số nghiệp và Dịch vụ phẩm trừ và xây dựng thuỷ sản TCSP 1990 41. Bình quân 5 năm 1991-1995 tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành đạt 13,7%, vượt xa kế hoạch đề ra (7,5%-8,5%); trong đó khu vực kinh tế Nhà nước tăng 15%, khu vực ngoài quốc doanh tăng 10,6%.
Trong 5 năm 1996-2000, sản xuất công Sinh viên: Phạm Bá Nam_D10 QLNL 23 Phân tích an ninh năng lượng Việt Nam nghiệp nước ta tiếp tục phát triển ổn định và tăng trưởng với nhịp độ cao.