chương 1, tác giả đã trình bày khái quát về đề tài nghiên cứu như lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như ý nghĩa của đề tài, từ đó giúp người đọc có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài. Cấu trúc vốn chủ sở hữu là một trong những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp cấu trúc vốn chủ sở hữu khác nhau thường có tác động tới hiệu quả doanh nghiệp không giống nhau. nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng nhằm xem xét tác động của cấu trúc vốn sở hữu tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho các doanh nghiệp.
LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Trong chương này, những lý luận chủ yếu về tác động của cấu trúc vốn chủ sở hữu và hiệu quả hoạt động đã được lý giải.1 của chương trình bày tổng quan về cấu trúc vốn chủ sở hữu, hiệu quả hoạt động, đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.2 trình bày các lý thuyết liên quan, các lý luận về tác động của cấu trúc vốn chủ sở hữu tới hiệu quả hoạt động. Phần cuối cùng xem xét các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cấu trúc vốn chủ sở hữu tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trên thế giới và Việt Nam nhằm minh chứng thêm cho vấn đề nghiên cứu. Một số khái niệm 2. Khái niệm về cấu trúc vốn Theo Hà Thị Thanh Nga và Ngô Thùy Dương (2019), cấu trúc vốn của doanh nghiệp là thuật ngữ dùng để mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng vào mục đích mua sắm tài sản và tiến hành hoạt động kinh doanh.
Căn cứ theo hình thức quan hệ sở hữu vốn, thành phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn nợ. Trong đó, vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp. Đây là bộ phận vốn quan trọng, có tính ổn định cao, thể hiện được tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp. Vốn của chủ sở hữu bao gồm vốn góp và lợi nhuận giữ lại.
Khái niệm về cấu trúc vốn chủ sở hữu doanh nghiệp Cấu trúc vốn chủ sở hữu được hiểu là sự phân bổ vốn chủ sở hữu theo mối tương quan tỷ lệ vốn chủ sở hữu được nắm giữ bởi các chủ sở hữu hay còn gọi là cổ đông. Cấu trúc vốn chủ sở hữu có ảnh hưởng đến việc điều hành doanh nghiệp do nó tác động tới việc ra quyết định của nhà quản lý. Nhiều tác giả và tổ chức đã đưa ra các cách phân loại khác nhau phụ thuộc vào vấn đề họ quan tâm trong cấu trúc vốn chủ sở hữu doanh nghiệp. Cấu trúc vốn chủ sở 1 hữu không chỉ được xác định bằng sự phân bổ số phiếu bầu và lượng vốn của các chủ sở hữu mà còn được phân biệt bởi danh tính của các chủ sở hữu.
Jensen và Meckling (1976) phân biệt giữa chủ sở hữu với vốn chủ sở hữu bên trong, vốn chủ sở hữu bên ngoài và nợ. Djakov (1999) cũng phân biệt sở hữu giữa ban quản lý, nhân viên, nhà nước và nước ngoài. Theo Repei (2000) cấu trúc vốn chủ sở hữu có thể được phân biệt theo mức độ cấu trúc vốn chủ sở hữu cổ đông lớn cũng như danh tính của chủ sở hữu. Cấu trúc vốn chủ sở hữu có thể bao gồm chủ sở hữu bên trong cũng như chủ sở hữu bên ngoài.
Chủ sở hữu bên trong là nhà quản lý và nhân viên và chủ sở hữu bên ngoài là cá nhân, tổ chức và nhà nước. Chủ sở hữu cũng có thể được phân biệt là chủ sở hữu nước ngoài và chủ sở hữu trong nước. Nhìn chung, có một vài cách phân loại, tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả xét sở hữu nhà quản lý dựa trên số lượng cổ phần thuộc sở hữu của tất cả các nhà quản lý điều hành và không điều hành của doanh nghiệp. Khái niệm về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Hiệu quả liên quan đến việc sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ bằng cách sử dụng số lượng hoặc tài nguyên nhỏ nhất, như vốn, lực lượng lao động, tiêu thụ năng lượng.
Do đó, người ta thường dễ nhầm lẫn giữa hiệu quả hoạt động và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, để hiểu rõ hơn về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, trước tiên, người ta cần phân biệt hai khái niệm này. Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định. Chỉ các doanh nghiệp kinh doanh mới nhằm vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và vì thế mới cần đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Trong khi đó, hiện nay, có nhiều hướng tiếp cận khác nhau để đưa ra khái niệm về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Theo Bevan (1999), tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thường liên quan với tăng sản lượng (increased output), hiệu quả cao hơn (higher efficiency), tăng khả năng sinh lợi (increased profitability)… Trước hết, quan điểm liên quan đến tăng sản lượng cho rằng hiệu quả hoạt động là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu 1 của công ty, thể hiện mối quan hệ giữa kết quả đạt được và các chi phí ban đầu bỏ ra để có thể đạt được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ này, hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của công ty và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường. Để đo lường hiệu quả theo hướng tiếp cận này, các nhà nghiên cứu thường sử dụng mô hình phi tham số như DEA (Data Envelopment Analysis – mô hình phân tích bao số liệu) hay SFA (Stochastic Frontier Analysis – phương pháp phân tích biên).
Thứ hai, cũng có quan điểm cho rằng hiệu quả hoạt động chính là phần chênh lệch tuyệt đối giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Do đó, theo hướng tiếp cận này, một số nghiên cứu sử dụng các chi tiêu như lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT), lợi nhuận sau thuế (EAT) để đo lường hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, hướng tiếp cận này bộc lộ mặt hạn chế vì chưa thể hiện được mối tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí trong sự vận động biến đổi liên tục. Thứ ba, một hướng tiếp cận được đề xuất nhằm khắc phục hạn chế nêu trên để xem xét hiệu quả hoạt động là đại lượng được đo lường bằng thương số giữa phần tăng thêm của kết quả thu được với phần tăng thêm của chi phí, đo lường thông qua các chỉ tiêu tương đối như chỉ số tăng trưởng doanh thu trên tăng trưởng chi phí.
Tuy vậy, hướng tiếp cận này cũng có nhược điểm là không xét đến mức độ tuyệt đối của kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh. Cuối cùng, một hướng tiếp cận phổ biến là xem xét hiệu quả hoạt động kinh doanh phản ánh lợi nhuận thu được trên phần vốn bỏ ra ban đầu. Hướng tiếp cận này có ưu điểm là phản ánh được mục đích cuối cùng của các công ty là lợi nhuận. Tuy nhiên lại có nhược điểm là chỉ tính đến nguồn vốn đầu tư ban đầu mà bỏ qua các nguồn lực khác đã sử dụng.
Các chỉ tiêu dùng để đo lường hiệu quả hoạt động theo hướng tiếp cận này thường là các chỉ số lợi nhuận như: tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE)… Ngoài việc sử dụng các chỉ số có được từ giá trị sổ sách, thì theo hướng tiếp cận này, còn có chỉ số Tobin’s Q, đây 1 là chỉ số đo lường hiệu quả hoạt động dài hạn của công ty và phản ánh đánh giá của thị trường đối với hiệu quả hoạt động của công ty. Trong luận văn này, tác giả đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp theo hướng tiếp cận cuối cùng. Cụ thể, tác giả sẽ sử dụng chỉ số ROA, ROE và Tobin’s Q để đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Phần tiếp theo sẽ trình bày cách đo lường các chỉ số được sử dụng trong bài.
Nghiên cứu lý thuyết về tác động của cấu trúc vốn chủ sở hữu đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 2. Lý thuyết chi phí đại diện Jensen và Meckling (1976) cho rằng trong công ty cổ phần chủ yếu tồn tại các mối quan hệ hợp đồng đại diện giữa các cổ đông và các nhà điều hành; giữa các cổ đông và giữa chủ nợ và cổ đông: Thứ nhất, đó là mối quạn hệ giữa nhà sở hữu và nhà quản lý. Vấn đề đại diện giữa chủ sở hữu và các nhà quản lý trong tổ chức do sự tách biệt cấu trúc vốn chủ sở hữu khỏi quyền kiểm soát được tìm thấy từ khi các tập đoàn lớn ra đời (Berle và Means, 1932). Các chủ sở hữu giao nhiệm vụ cho các nhà quản lý để quản lý công ty với hy vọng rằng các nhà quản lý sẽ làm việc vì lợi ích của các chủ sở hữu, nhằm tối đa hóa giá trị công ty, tối đa lợi ích của chủ sở hữu bằng cách làm tăng giá trị cổ phiếu.
Ngược lại, các nhà quản lý quan tâm nhiều hơn đến tối đa hóa giá trị mà họ nhận được, những nhà quản lý có thể vì lợi ích cá nhân mà làm ảnh hưởng tới lợi ích của công ty bởi chính những nhà quản lý mới là người nắm rõ tình hình thực tế của doanh nghiệp, từ đó họ có thể làm sai lệch báo cáo tài chính hoặc quyết định đầu tư vào các dự án không làm gia tăng giá trị công ty nhưng lại làm tăng lợi ích cá nhân họ. Sen (1987) và Williamson (1985) đã chỉ ra rằng hành vi của con người là hợp lý và nhằm tối đa hóa kết quả đạt được của họ. Sự khác biệt lợi ích giữa người ủy quyền và người đại diện cùng với việc thiếu hụt sự giám sát thích hợp do sự phân tán cấu trúc quyền chủ sở hữu dẫn đến những xung đọt lợi ích, đây được gọi là mâu thuẫn người ủy quyền – người đại diện. 1 Thứ hai, đó là mối quan hệ giữa các cổ đông.
Vấn đề đại diện này xoay quanh những mâu thuẫn lợi ích giữa các cổ đông trong doanh nghiệp.