Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Yếu tố tự truyện Thuật ngữ tự truyện có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp nhưng lại vô cùng quen thuộc với lí luận văn học và sáng tác văn chương ở nước ta từ trước đến nay. Sự xuất hiện của nhiều tác phẩm tự truyện đã cho thấy rõ sự lên ngôi của cái “tôi” với những biểu hiện mới mẻ và vô cùng độc đáo.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên thì: “Tự truyện là tác phẩm văn học thuộc thể loại tự sự do tác giả viết về cuộc đời mình” [20, tr. Còn theo Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên: “Tự truyện thường là những câu chuyện viết bằng văn xuôi, kể lại dĩ vãng của chính tác giả…bởi vì, về quá khứ, kỷ niệm bị xóa mờ với thời gian, vì tư duy khi viết về tự truyện đã trải qua biết bao cảnh đời, và vì các sự kiện được sắp xếp, bố cục lại, suy ngẫm lại, nên khó mà trùng hợp với sự thật…Tự truyện không phải là một tập hợp những kỷ niệm tản mạn, mà được bố trí như một truyện, một tiểu thuyết” [23, tr. Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn, cũng đưa ra định nghĩa: “Tự truyện là tác phẩm văn học tự sự, thường được viết bằng văn xuôi, trong đó tác giả tự kể và miêu tả cuộc đời của bản thân mình” [3, tr. Tác phẩm tự truyện hướng đến vấn đề lý giải cuộc sống đã qua của tác giả để tạo ra những đường nét mạch lạc cho thực tế cuộc sống.
Người viết tự truyện đôi khi cũng thêm thắt, sắp xếp lại các chi tiết nhằm làm cho việc trình bày trở nên hợp lý và nhất quán hơn. Nó ghi dấu thời gian đã lùi xa để nhớ về tuổi thơ, tuổi trẻ và làm sống lại nhiều kỷ niệm nhất của cuộc đời mỗi con người. Thông qua hồi ức, cái “tôi” hiện ra như một thực thể đang phát triển và lớn dần. Tự truyện là một vấn đề được quan tâm của văn học phương Tây với mong muốn kể lại cuộc c 12 đời mình từ những kỉ niệm tuổi thơ song nó chỉ thật sự được xuất hiện khi nền văn học chuyển sang dòng văn học lãng mạn với chủ nghĩa cá nhân phát triển mạnh mẽ.
Năm 1974 trong tiểu luận Hiệp ước tự thuật (Le Pacte Autobiographique), Philippe Lejeune trình bày một định nghĩa nổi tiếng nhằm xác lập những dấu hiệu về mặt hình thức của tự truyện: Đó là “thể loại tự sự tái hiện dĩ vãng, trong đó một con người có thật kể lại cuộc sống của mình, nhấn mạnh về đời sống riêng tư, đặc biệt là về mặt lịch sử hình thành nhân cách” [39, tr. Nhà văn đã biến cuộc đời nhân vật thành một bức chân dung tự họa khi viết lại câu chuyện. Có thể bức chân dung ấy khác với bức chân dung thật hoặc đôi khi có những nét tương đồng nhưng được tác giả sắp xếp nhào nặn thành một sáng tạo nghệ thuật để từ đó hình thành nên cái “tôi” tác giả nhằm phát triển nhân cách của nhân vật trong quá khứ với tư cách là hình tượng trung tâm của tác phẩm và tính xác thực tương đối của cốt truyện. Nguyễn Thành Thi trong Văn học thế giới mở đã viết: “Nhà văn khi sáng tác tác phẩm bao giờ cũng sáng tác theo một mô hình thể loại xác định.
Thể loại tác phẩm văn học, thường được hiểu là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể” [68, tr. Nhà văn khi sáng tác nên các tác phẩm luôn phải tuân thủ những quy định để tạo ra những nét riêng biệt và những đặc trưng cơ bản của thể loại đó. Trong tác phẩm tự truyện chúng ta hay gặp hai nhân vật “tôi” - một thuộc về quá khứ và một đang tồn tại song song với người đọc để kể lại câu chuyện đã qua. Nhân vật “tôi” trong quá khứ là thuộc về cái đã qua được tái hiện qua lời nói hành động của người kể chuyện.
Còn cái “tôi” của hiện tại là cái “tôi” nhà văn, nhà văn dùng suy nghĩ, tình cảm của mình…để xây dựng nên tác phẩm mang yếu tố tự truyện. Từ đó, hình ảnh nhân vật “tôi” xuất hiện bằng những xúc cảm khác nhau: Có lúc suy tư trăn trở, có lúc lại mang những khát vọng lớn lao và đôi lúc là những kỉ niệm ào ạt tràn về trong tâm trí nhà văn. c 13 Do đó tự truyện là tác phẩm văn học tự sự mà tác giả viết về cuộc đời của chính mình. Ở đây nhà văn đôi khi hư cấu thêm bớt các chi tiết của cuộc đời để làm cho số phận nhân vật trở nên hợp lí hơn.
Nhưng theo Hà Minh Đức trong Lý luận văn học: “Trong tác phẩm tự sự, đời tư của nhà văn chỉ là chất liệu hiện thực được tác giả sử dụng với những mục đích khác nhau…Tự truyện có thể bao quát hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự, sử thi…”. Qua các nhân vật được xây dựng trong truyện, người viết có dịp nhớ lại những kỉ niệm tuổi thơ và tìm lại được những kinh nghiệm sống quý báu. Một tác phẩm tự truyện hoàn hảo đó là khi người viết đạt được ba mục đích cơ bản, quan trọng: tự thú, thể nghiệm và triết lí. Quay về quá khứ là để hướng đến tương lai để chiêm nghiệm và nhìn rõ hơn những giá trị của cuộc sống hiện tại.
Văn học Việt Nam trước 1975 do nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan nên các nhà văn thường ít khi kể lại câu chuyện của đời mình. Nhưng, bước vào giai đoạn văn học sau đổi mới, tự truyện dần trở thành một khuynh hướng được nhiều nhà văn quan tâm. Điều cốt yếu làm nên sự thay đổi nhận thức này chính là sự phát triển của ý thức cá nhân. Bên cạnh đó là ý thức về việc tái hiện hiện thực và sự hư cấu trong sáng tác.
Đỗ Hải Ninh khi nghiên cứu về yếu tố tự truyện đã chia các tác phẩm văn xuôi tự truyện thành hai dạng thức cơ bản: Những thể loại hư cấu và phi hư cấu. Người đọc dựa vào trình độ tiếp nhận của mình để xác định đó là tác phẩm có hư cấu hay không? Và thực tế cho thấy sự phân chia tác phẩm tự truyện là hư cấu hay phi hư cấu chỉ mang tính chất tương đối mà thôi. Như vậy, trong tác phẩm mang yếu tố tự truyện, cốt truyện thường có mối quan hệ chặt chẽ với tiểu sử, cuộc đời của nhà văn. Chất liệu đời tư được nhà văn lựa chọn để xây dựng cốt truyện một cách có mục đích.
Yếu tố thực từ cuộc đời tác giả xuất hiện đậm đặc hơn, ít bị che khuất hơn. Những câu chuyện trong tự truyện thường là những việc đã xảy ra trong quá khứ, vì vậy cái nhìn trong tự truyện là cái nhìn hồi cố, giọng văn thể hiện sự chiêm nghiệm, từng trải. Trải qua sự phát triển theo từng thời kỳ, tự truyện cũng có sự biến đổi nhất định để phù hợp c 14 với từng giai đoạn. Các nhà nghiên cứu khi phân loại tự truyện có thể dựa vào hình thức biểu đạt chủ thể trong tự truyện để chia thành hai nhóm: Tự truyện thuần túy và tự truyện biến thể.
Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến cho rằng không thể có tự truyện thuần túy vì khi viết ra câu chuyện của mình, các nhà văn đã có một khoảng cách về thời gian, trí nhớ của người kể, mục đích của người kể đã có một độ di lệch nhất định giữa câu chuyện kể và hiện thực. Tức là độ chính xác không còn. Tuy nhiên, sự phát triển của văn học cũng đem lại những đặc tính riêng của nó và mỗi thể loại đều có những ranh giới xác định một cách tương đối. Thể loại hồi ký Hồi ký thuộc thể loại ký, thường thiên về trần thuật từ ngôi tác giả.
Nội dung của hồi ký thường tái hiện lại các sự kiện có thực xảy ra trong quá khứ mà tác giả đã từng chứng kiến. Đây là thể loại ra đời từ rất sớm qua những ghi chép về các cuộc hành trình của người Hy Lạp thông qua những kí ức của Kxê - nô- Phôn và Xô - cơ - rát (thế kỉ V tr. CN) và được xem là tác phẩm hồi ký xưa nhất. Hồi ký tự bản thân nó đã thể hiện rất rõ sự biến động của cuộc sống của thời gian.
Đặc biệt là các sự kiện và sự thay đổi của lịch sử của thời đại, dân tộc. Hồi ký được coi là một thể loại văn học có tính thời sự vì việc tìm hiểu về hồi ký với tư cách là một thể loại văn học cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên. Các tác giả đã đưa ra khái niệm: “Hồi kí là một thể loại thuộc loại hình kí, kể lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến” [20, tr.
Họ còn cho rằng: “Xét về phương diện quan hệ giữa tác giả với sự kiện được ghi lại về tính chính xác của sự kiện, về góc độ và phương thức diễn đạt, hồi kí có nhiều chỗ gần với nhật kí. Còn về phương diện tư liệu, về tính xác thực và không có hư cấu thì hồi kí lại gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học” [20, tr. Hồi kí được tác giả suy nghĩ kỹ trước khi viết và phải luôn đặt tính chân thật lên hàng đầu. Đó có thể là một câu c 15 chuyện mà tác giả được chứng kiến hoặc lấy chất liệu từ chính cuộc đời của mình để làm đối tượng khai thác.
Theo Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên cho rằng: “Tác phẩm hồi ký là một thiên trần thuật từ ngôi tác giả, kể về những sự kiện có thực xảy ra trong quá khứ mà tác giả tham dự hoặc chứng kiến” [23, tr. Đây là cách lý giải ngắn gọn và dễ hiểu nhất cho mọi tầng lớp bạn đọc. Tuy nhiên nó lại thiếu độ mở không phù hợp với tình hình phát triển của hồi ký hiện đại. Trong thực tế các tác phẩm hồi ký ra đời vào những năm đầu thập niên của thế kỷ XXI luôn có sự đa dạng về nghệ thuật tự sự và kết cấu.