Chương 1 TIỂU THUYET CUA MA VĂN KHANG TRONG NEN TIỂU THUYET DUONG ĐẠI VIỆT NAM 1.1 Tổng quan về tiểu thuyết đương đại Việt Nam Trong văn xuôi, tiêu thuyết đã đóng một vai trò quan trọng vì nó là một thé loại thích hợp, uyên chuyên va đang sinh thành. Người ta gọi tiểu thuyết là “máy cái của văn học”. Nhiều người đồng tình với ý kiến cho rằng thời kì 1975- 2000 là “thời của tiểu thuyết” hay nói cách khác văn xuôi đương đại giàu ban chất tiêu thuyết. Ở thé loại này bao giờ cũng vậy, khúc xạ rõ nhất bộ mặt đời sống tinh thần, những thăng trầm xã hội.
Sau 1975 là thời của những đổi thay tích cực, là thời giao tranh gay gắt giữa cái cũ và cái mới. “Công nhận thực tồn sự khủng hoảng trên nhiều phương diện của đời sống xã hội là một thái độ khách quan, khoa học. Tiểu thuyết băng con đường nghệ thuật riêng, đã thé hiện sự khủng hoảng nay trong những số phận có tính bi kịch của nó”. Trong việc đề cập đến vấn đề “hậu chiến tranh”, hầu hết các nhà văn viết về đề tài này đều thừa nhận: chiến tranh đã lùi xa nhưng dư âm của nó vẫn luôn đeo đăng, bám riết, trở thành một nỗi ám ảnh, thành “hội chứng chiến tranh” trong tâm khảm của những người lính trở về sau cuộc chiến.
Họ luôn khát khao “đi tìm thời gian đã mất” dé nhận lại hình ảnh của chính mình trong Manh đất lắm người nhiễu ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng (Dương Huéng).Tat cả điều đó trở thành sự dày vò luôn thường trực. Chiến tranh đã cướp di tuổi trẻ của họ, sinh lực của họ, khiến cho ngay hoa bình trở lại cũng là lúc cánh cửa hạnh phúc sập xuống trước mắt họ một cách nghiệt ngã trong Bến không chông, Bóng đêm và mặt trời (Dương Hướng), Ăn may di vãng (Chu Lai), Thân phận cua tình yêu (Bảo Ninh).Nhu vậy, những bi kịch đời tư bỗng được đặt ra trong hành trình con người kiếm tìm hạnh phúc; con người đã kịp thời nhận ra “khối cô đơn không 16” đang chụp xuống Nguyễn Thị Phượng 15 Lớp K56 Cao học Văn học Yếu to tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thân phận họ, đang “đè bẹp” cuộc đời họ. Mở ra trước mắt họ sự “tù túng” “chật chội” của không gian; len lỏi vào từng số phận đáng thương của họ, là những “thước phim lộn trái cuộc đời”. Cái cô đơn, sự tuyệt vọng và cả sự rách nát của tâm hồn cũng là hiện trạng có thật trong đời sống tinh thần con người.
Tiểu thuyết đương đại không thờ ơ, né tránh sự thật đó. Giá trị nhân bản của văn học vì con người, vì tất cả những nỗi niềm của nó dù nhỏ nhoi nhất. Tất nhiên ở đây một vấn đề được đặt ra: Tính mức độ của sự miêu tả. Cái lối miêu tả quá đà là chỗ yếu của Ly than ( Trần Mạnh Hảo), Kẻ lang thang (Trần Văn Tuấn).
Lần đầu tiên trong văn học có một số tiểu thuyết hướng sự miêu tả đến cộng đồng người Việt ở nước ngoài - chủ yếu ở Liên xô. Hai cuốn tiêu thuyết của Bùi Việt Sĩ (Người đưa đường thot chân) và Hữu Dat (Hai dau của bức thy tình) đều đem đến nỗi buồn, sự day dứt cho chúng ta về sé phận của người Việt Nam ở nước ngoài. Thời kì này tiểu thuyết phát triển mạnh mẽ giống như “măng mùa xuân” với nhiều tác phẩm được công nhận cả về nội dung lẫn nghệ thuật như Cửa gió (Xuân Đức), Đứng trước biển (Nguyễn Mạnh Tuan), Hat mùa sau (Nguyễn Thị Ngọc Tú), Dat trang (Nguyễn Trọng Oánh), Mua lá rung trong vườn (Ma Văn Kháng), Thời xa vắng (Lê Luu), Chim én bay (Nguyễn Tri Huân), Manh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chong (Duong Hướng), Than phận cua tinh yêu (Bao Ninh), Thuy hoa dao tac (Hoàng Minh Tường), Hồ Quy Ly (Nguyễn Xuân Khanh), Lạc rừng (Trung Trung Đỉnh), An mày di vãng (Chu Lai), Thời gian của người (Nguyễn Khải). Các nhà văn trong sáng tác của mình đã từ bỏ được lối nhìn dé dai về đời sống và con người.
Doc sáng tác của họ bạn đọc dé có cảm giác phức tạp: thú vị và đau xót, căm phẫn và tin tưởng trước con người và tất cả những gì nó tạo ra. Cái cảm giác phức tạp này có được đã chứng tỏ tiêu thuyết áp rất sát vào đời sống, xông thắng vào các “mắt bão” của cuộc đời và nêu những vấn đề cực kì quan thiết với con người thông qua những số phận có tinh bi kịch. Nguyễn Thị Phượng 16 Lop K56 Cao hoc Van hoc Yếu to tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng Có một thực tế là tiểu thuyết đang ngắn lại. Chang hạn như Lac rừng (Trung Trung Dinh), Hai nhà (Lê Luu), Thiên than sám hối (Tạ Duy Anh).
chỉ có vải trăm trang và có thể “đọc một hơi”. Đó là sự dồn nén chất liệu đời sống theo chiều sâu và cũng là cách văn học cạnh tranh với văn hóa- nghe nhìn khi mà quỹ thời gian của con người hiện đại eo hẹp, khi mà tính hiệu quả được dé cao và vì quy luật của nghệ thuật là “quý hồ tinh bat quý hồ đa”. Cấu trúc của tiểu thuyết cũng uyén chuyên, linh hoạt hơn do độ mở của nó rất rộng mà người đọc thấy rõ nhất là lối kết thúc không “có hậu” như tiêu thuyết truyền thống (kể cả tiểu thuyết những năm bảy mươi). Moi số phận, van dé mà tiểu thuyết chuyên chở đều như dang dé, không có lời phán quyết cuối cùng và mọi biến động đều mang tính bất ngờ, nhiều yếu tố ngẫu nhiên, tính chất “phi lí tính” trong cau trúc tác phẩm biểu hiện khá rõ.
Cái giá đỡ của toàn bộ cấu trúc tác phâm là những xung đột có tính chất “vi mô”- xung đột tinh thần dai dăng, khốc liệt, tinh vi va lắm cao trào, thoái trào. Con người luôn luôn đối diện với chính mình. Tác giả tiểu thuyết vì thế, trong nhiều trường hợp không ngần ngại đặt nhân vật vào những hoàn cảnh khắc nghiệt dé nhằm phát hiện mức độ đề kháng của nó. Tiểu thuyết đương đại đi sâu hơn vào tâm linh, con người thời đại.
Nhịp điệu của nó nhanh, mạnh phù hợp với thị hiểu người đọc. Ngoài ra, chúng ta cũng có thé thấy nhiều sự đổi mới về kĩ thuật trong các tác pham tiêu thuyết như Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt Hà), hay tiêu thuyết của Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Nguyễn Phúc Lai Thành, Đặng Thiều Quang,.những tác giả trẻ có nhiều hứa hen. Mặt khác, trong quá trình vận động và phát triển, diện mạo của tiểu thuyết luôn có sự biến đổi. Đặc biệt là trong khoảng thời gian gan đây, các nhà nghiên cứu văn học đã bàn luận khá nhiều về vấn đề cách tân tự sự trong tiêu thuyết Việt Nam đương đại.
Với những nghiên cứu nhiều chiều, theo nhiều hướng khác nhau, và hầu hết đều mang tính phát hiện, chúng ta có thể nhận thấy tính phức tạp của nghệ thuật tự sự trong tiêu thuyết đương dai (với Nguyễn Thị Phượng 17 Lớp K56 Cao học Văn học Yếu to tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng sự luân chuyên của các ngôi kê cùng sự đan chéo của các điểm nhìn; với sự đa dạng hoá các giọng điệu trần thuật cùng sự pha trộn táo bạo các loại lời người trần thuật - lời nhân vật và lời gián tiếp tự do. Bên cạnh đó, còn xuất hiện ngày càng nhiều tiểu thuyết có yếu tô tự thuật. Trước đây, trong văn học Việt Nam truyền thống có rất ít tác giả tự ké chuyện về mình, nhìn chung “cái tôi của nhà văn Việt khá kín đáo” và không thích lộ diện nhưng trong khoảng vài thập kỉ trở lại đây, khuynh hướng tự thuật trong tiểu thuyết đang dần trở nên gây sự chú ý. Sự hiện diện của yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết biểu hiện sự thay đổi về cái tôi cá nhân cũng như nhận thức về vấn đề sự thật - hư cấu trong sáng tạo nghệ thuật.
Và gan liền với sự cách tân đổi mới đó là tên tuổi của biết bao thé hệ nhà văn. Trong đó phải ké đến Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Lê Luu,.Nha nghiên cứu La Nguyên đã khang định: “Trước khi làn sóng đổi mới dâng lên mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của dân tộc, trong những điều kiện cực kì khó khăn của đất nước, sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn. đã đốt lên nhiệt tình kiếm tìm chân lí, hứa hẹn khả năng tự đôi mới của nền văn học, khi nó đám song phang với quá khứ, bắt chấp mọi thế lực ngăn cản” [56; 27].2 Tiểu thuyết của Ma Van Kháng trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại Ma Văn Kháng là một trong những tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại. Thành tựu của Ma Văn Kháng kết tinh ở hai thé loại: tiểu thuyết và truyện ngắn.
Đặc biệt ở thé loại tiểu thuyết, từ tác phẩm đầu tiên Đồng bạc trắng hoa xoè (1979), đến Mưa mùa hạ (1982), Vùng biên ải (1983), Mua lá rung trong vườn (1985), Đảm cưới không có giấy giá thú (1989), Côi cut giữa cảnh đời (1989), Chó Bi, doi lưu lạc (1992) và Ngược dong nước lã (1999) cho đến tác phâm gần đây nhất Chuyện của Lý (6/2013), Ma Văn Kháng luôn tỏ ra là một cây bút vững vàng, sung sức. Nhà nghiên cứu Tran Đăng Suyén đã có một nhận xét tinh tế: “Doc truyện ngắn Ma Văn Kháng, tôi đã có lúc mơ hồ cảm thấy minh chờ đợi ở cây Nguyễn Thị Phượng 18 Lớp K56 Cao học Văn học Yếu to tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng bút này một tác phẩm dài hơi về đề tài quen thuộc của anh. Một cuốn tiểu thuyết, nó sẽ cho phép anh chuyên hoá khối lượng vốn sống day dan sau nhiều năm tích luỹ, nó cho phép anh phản ánh hiện thực một cách quy mô thích hợp với những thay đổi lớn lao mà anh đã từng chứng kiến, nó sẽ cho phép anh gửi gắm những suy nghĩ, những tình cảm, những kinh nghiệm, những điều tâm đắc rút được qua thời gian”. Hay nói về vẻ đẹp văn chương của ông, nhà nghiên cứu Phong Lê cũng có ý kiến cho răng hàng trăm truyện ngắn, hàng chục tiểu thuyết trên một hành trình dài, dẫu có lúc ngôn ngữ chính luận tràn lan, nhưng vẫn không làm thay đổi, biến dạng tiếng nói nghệ thuật đích thực trong tác phẩm của Ma Văn Kháng.