Chương 1. Tổng quan về đề tài. Trong chương này tác giả giới thiệu về bối cảnh và lí do chọn đề tài, đưa ra mục tiêu nghiên cứu, trình bày câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa đề tài, bố cục đề tài. Trình bày khái quát về lý thuyết sự gắn kết, tổng hợp một số nghiên cứu liên quan, nêu ra giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu. Trình bày tổng quan nghiên cứu, tiến trình nghiên cứu, phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu, công cụ thu thập và xử lý dữ liệu, thiết kế bảng câu hỏi và thang đo, mẫu nghiên cứu. Phân tích kết quả nghiên cứu. Phân tích dữ liệu, trình bày kết quả nghiên cứu để thấy được các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của sinh viên trong giáo dục đại học Khoa Quản trị kinh doanh trường Đại học Công Nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.
Dựa vào kết quả phân tích đưa ra kết luận nghiên cứu, đề xuất hàm ý quản trị, các hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Sự gắn kết của sinh viên (Student Engagement) Theo Skinner và cộng sự (1990), sự gắn kết là sự bắt đầu của hành động, nỗ lực, kiên trì với học tập và trạng thái cảm xúc xung quanh các hoạt động học tập. Hoặc theo Chapman (2003), sự gắn kết là việc sẵn sàng tham gia vào các hoạt động ở trường với các chỉ số gắn kết về hành vi, nhận thức, tình cảm trong các nhiệm vụ học tập cụ thể. Russell và cộng sự (2005) cho rằng đó là năng lượng trong hành động, sự kết nối giữa con người và hành động.
Fredericks và cộng sự (2004), đã chia nhỏ sự gắn kết của sinh viên thành ba khía cạnh chính: hành vi, cảm xúc, nhận thức. Gắn kết hành vi bao gồm sự tham gia của sinh viên vào các bài học, chẳng hạn như mức độ chuyên cần và mức độ tập trung, cũng như sự tham gia của sinh viên vào các khía cạnh xã hội của việc học và việc sinh viên có tham gia vào các hoạt động ngoại khóa hay không. Gắn kết cảm xúc bao gồm cảm xúc của sinh viên, đặc biệt là đối với môn học hoặc khóa học mà họ đang học, giáo viên, bạn học của họ, trải nghiệm học tập tổng thể của họ và liệu họ có cảm thấy bài học thực sự có giá trị hay không. Gắn kết nhận thức bao gồm động lực và đầu tư của sinh viên vào giáo dục của chính họ.
Nó cũng bao gồm mức độ mà sinh viên làm chủ việc học của mình, có thể tự điều chỉnh và mong muốn theo đuổi các mục tiêu giáo dục cá nhân. Hu và Kuh (2001), sự gắn kết sinh viên là hiệu quả của những nỗ lực bản thân sinh viên cống hiến cho các hoạt động giáo dục nhằm đạt các kết quả họ mong đợi. Kuh và cộng sự (2007), sự gắn kết của sinh viên là sự tham gia vào hoạt động giáo dục, ở cả trong và ngoài lớp học, nhằm đạt được những mục tiêu đã xác định. Yazzie-Mintz (2007) sự gắn kết của sinh viên có thể được mô tả như mối quan hệ của sinh viên với cộng đồng trường học: con người (người lớn và bạn bè đồng trang lứa), cấu trúc (quy tắc, cơ sở vật chất, lịch trình), chương trình giảng dạy và nội dung, phương pháp sư phạm, và các cơ hội ngoại khóa.
Có nhiều cách mà sinh viên có thể gắn kết với cộng đồng trường học; mức độ mà sinh viên gắn kết vào trường học phụ thuộc vào chất lượng, độ sâu 7 và bề rộng của mối quan hệ của sinh viên với các khía cạnh khác nhau của cuộc sống và công việc của trường. Kuh (2009) được trích bởi (Thomas, 2012): sự gắn kết của sinh viên được định nghĩa là “thời gian và nỗ lực mà sinh viên dành cho các hoạt động được liên kết theo kinh nghiệm với kết quả mong muốn của trường đại học và những gì các tổ chức làm để thu hút sinh viên tham gia vào các hoạt động này ”. Trowler (2010) cung cấp một phân tích sâu hơn về thuật ngữ này, dựa trên văn học quốc tế, sự gắn kết của sinh viên liên quan đến sự tương tác giữa thời gian, nỗ lực và các nguồn lực liên quan khác được đầu tư bởi cả sinh viên và tổ chức của họ nhằm tối ưu hóa trải nghiệm của sinh viên và nâng cao kết quả học tập và sự phát triển của sinh viên cũng như hiệu suất và danh tiếng của tổ chức. Theo Khảo sát quốc gia về sự gắn kết của sinh viên (Hoa Kỳ và Canada) (The National Survey of Student Engagement) (NSSE), khái niệm sự gắn kết sinh viên được định nghĩa như sau: Đầu tiên là số lượng thời gian và sự nỗ lực mà sinh viên dành cho việc học và các hoạt động có mục đích giáo dục khác.
Thứ hai là cách tổ chức triển khai các nguồn lực, chương trình giảng dạy và các cơ hội học tập khác để giúp sinh viên tham gia vào các hoạt động có liên quan đến việc học của sinh viên được trích dẫn bởi (Trân, 2020).2 Dịch vụ giáo dục đại học Theo Gronroos (1990), dịch vụ là một hoạt động hoặc chuỗi các hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình trong đó diễn ra sự tương tác giữa khách hàng và nhân viên, nguồn lực vật chất, hàng hóa hay hệ thống cung cấp dịch vụ nơi giải quyết những vấn đề của khách hàng. Giáo dục đại học là một ngành dịch vụ bởi giáo dục đại học có đầy đủ các thuộc tính của một dịch vụ: nó có tính vô hình, không thể tồn kho, quy trình cung ứng dịch vụ (kiến thức, khả năng áp dụng) của cơ sở đào tạo (giảng viên, nhân viên) và sử dụng dịch vụ của khách hàng (sinh viên) diễn ra đồng thời, dịch vụ giáo dục cũng không đồng nhất tùy vào điều kiện cụ thể của quy trình cung ứng dịch vụ (Cuthbert, 1996) trích từ (Nhung và cộng sự, 2012). 8 Firdaus (2006), Giáo dục đại học được phân loại như là dịch vụ với đầu ra chính là sự phát triển kiến thức, kĩ năng, tinh thần và kết quả tốt nghiệp chứ không phải là quyền sở hữu của một đối tượng như giấy chứng nhận trình độ đại học, bằng chứng hữu hình của dịch vụ giáo dục. Do đó, nó có vai trò quan trọng để xác định các yếu tố quyết định đến chất lượng dịch vụ trong giáo dục đại học từ quan điểm của sinh viên.
Giáo dục đại học được xem là một phần của ngành dịch vụ vì nhiệm vụ chính của các trường đại học là cung cấp những trải nghiệm học tập chất lượng cho sinh viên. Quá trình đào tạo dưới hình thức cung cấp bài học, tư vấn và giám sát dự án có thể được coi là một loại dịch vụ cung cấp cho sinh viên với vai trò khách hàng. Chất lượng dịch vụ của trải nghiệm học tập, đặc biệt là trong giáo dục đại học, là duy nhất vì nó chủ yếu được xác định bởi kì vọng của sinh viên, cũng là khách hàng cá nhân (Cuong (2016) trích bởi Chi (2019)). Dịch vụ giáo dục đại học là một hoạt động cung cấp kiến thức, kỹ năng cho sinh viên trong đó các giảng viên và sinh viên là thành phần quan trọng nhất, tương tác với nhau và quyết định chất lượng của hoạt động.2 Các lý thuyết liên quan Liên quan đến sự gắn kết gồm Lý thuyết sự tham gia của sinh viên của Astin (1999) (Theory of Student Involvement), Mô hình nhân quả chung của Pascarella (1985) (Pascarella’s general causal model), Mô hình sự rời đi của sinh viên của Tinto (1993) (Tinto’s model of student departure).1 Lý thuyết sự tham gia của sinh viên của Astin (1999) (Theory of Student Involvement) Lý thuyết sự tham gia của Astin (1999) về sự tham gia của sinh viên bắt nguồn từ một nghiên cứu dài hạn về sinh viên bỏ học đại học và tìm cách xác định các yếu tố trong môi trường đại học tác động đáng kể đến sự gắn kết của sinh viên trong trường đại học (Astin, 1993).
Môi trường các yếu tố được xác định là yếu tố dự báo quan trọng về sự kiên trì của sinh viên là nơi cư trú, tổ chức một công việc bán thời gian trong khuôn viên trường, tham gia các hoạt động ngoại khóa như các hội đoàn kết xã hội và các tổ chức từ thiện và các câu lạc bộ và tổ chức, và tham gia vào thể thao liên trường. 9 Lý thuyết về sự tham gia của Astin (1999) là một lý thuyết hữu ích giúp các nhà quản trị và giảng viên thiết kế môi trường học tập hiệu quả hơn. Astin giải thích về sự tham gia, sự tham gia của học sinh đề cập đến lượng năng lượng thể chất và tâm lý, logic mà học sinh dành cho trải nghiệm học tập. Vì vậy, một sinh viên có tính tham gia cao là người, dành năng lượng đáng kể cho việc học, dành nhiều thời gian trong khuôn viên trường, tham gia tích cực vào các tổ chức sinh viên và tương tác thường xuyên với các giảng viên và sinh viên khác.
Ngược lại, một sinh viên điển hình không chuyên tâm bỏ bê việc học, dành ít thời gian trong khuôn viên trường, bỏ qua các hoạt động ngoại khóa và ít tiếp xúc với các giảng viên trong khoa hoặc các sinh viên khác. Lý thuyết có năm định đề cơ bản: 1. Tham gia đề cập đến việc đầu tư năng lượng vật lý và tâm lý vào các đối tượng khác nhau. Các đối tượng có thể mang tính khái quát cao (trải nghiệm của sinh viên) hoặc rất cụ thể (chuẩn bị cho bài kiểm tra).
Bất kể đối tượng của nó là gì, sự tham gia xảy ra trong một chuỗi liên tục; nghĩa là, các sinh viên khác nhau biểu hiện các mức độ tham gia khác nhau vào đối tượng nhất định, và cùng một sinh viên biểu hiện các mức độ tham gia khác nhau đối với các đối tượng thờ ơ tham gia vào các thời điểm khác nhau. Sự tham gia có cả đặc điểm định lượng và định tính. Ví dụ, mức độ tham gia của sinh viên vào công việc học tập có thể được đo lường về mặt định lượng (số giờ sinh viên dành cho việc học) và định tính (liệu sinh viên có xem lại và hiểu các bài tập đọc hay không chỉ nhìn chằm chằm vào sách giáo khoa). Những gì sinh viên thu được từ việc tham gia (hoặc sự phát triển của sinh viên) tỷ lệ thuận với mức độ mà sinh viên đã tham gia (cả về chất lượng và số lượng).
Kết quả học tập có tương quan với sự tham gia của sinh viên.