CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐẢO PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Do nằm sát lục địa và chịu ảnh hưởng của quá trình lục địa (chủ yếu thông qua hệ thống sông ngòi), nước biển thường có thành phần và tính chất khác với đại dương. Cho nên trong các văn liệu, người ta còn gọi chúng là biển rìa (marginal sea)” (Nguyễn Chu Hồi, 2005, tr.
Biển và đại dương là cội nguồn của sự sống trên Trái đất. Biển điều hòa các ảnh hưởng khốc liệt của khí hậu, là bồn chứa và nơi cấp nước khổng lồ của Trái đất mà nếu thiếu nó, các lục địa trở thành sa mạc khô cằn. Biển và đại dương cung cấp môi trường để hoạt động giao thông trên biển. Ngoài ra, biển còn là nơi dự trữ nguồn thực phẩm vô cùng dồi dào nuôi sống con người.
Biển có thể được phân thành 3 nhóm: biển nội địa (hay còn gọi là biển kín), biển ven bờ và biển được vây quanh bởi các đảo. Với vị trí địa lý ¾ diện tích Việt Nam là biển nên biển mang lại rất nhiều nguồn lợi về kinh tế, khoáng sản, năng lượng, du lịch, quân sự… Hiện nay, tình trạng môi trường ô nhiễm đang gia tăng nên vai trò biển và các hệ sinh thái biển có giá trị vô cùng to lớn trong việc điều hòa bầu khí quyển. Ngoài ra, biển còn còn có các giá trị về khảo cổ học, văn hóa, nghệ thuật, tín ngưỡng… 1 Đại dương: là toàn bộ các thủy vực có chứa nước mặn của Trái đất. Đảo Đảo là vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước.
Theo Phan Thị Yến Tuyết (2016) thì: “Đảo là kết quả hình thành của một quá trình trôi dạt, xê dịch theo nhiều chiều của nhiều loại vùng đất trên khắp thế giới. Quá trình hình thành đảo và quần đảo có thể kéo dài hàng ngàn, hàng triệu năm. Căn cứ trên toàn bộ tiến trình hình thành đảo, người ta phân biệt ra các loại đảo: đảo đại dương, đảo lục địa, đảo san hô, đảo núi lửa, đảo mới và đảo biến mất. Nhiều đảo tập hợp lại thành từng nhóm gọi là quần đảo” (tr.
Đảo Phú Quý có nguồn gốc là đảo núi lửa, nền đảo là đá magma phun trào, trên bề mặt là đất feralit đỏ vàng. Quanh đảo là những dải đồng bằng nhỏ ven biển, đa phần cư dân sinh sống ở vùng này, càng vào sâu trong giữa đảo là những vùng đồi và ba ngọn núi thấp. Thực vật ở đảo là các loại cây bụi, dứa dại và xương rồng. Vì chịu tác động của biển nên Phú Quý có khí hậu ôn hòa nhưng quanh năm đều có gió lớn từ cấp 5 – cấp 6.
Chính vì vậy, nhà ở của người dân nơi đây phải xây cất hết sức kiên cố để tránh gió. Bao quanh đảo là hệ thống đá ngầm, đây là môi trường cho nhiều loài động thực vật biển sinh sống đa dạng và phong phú. Đất ở đảo phần lớn là cát và hiếm nước trên bề mặt, chính vì điều kiện môi trường sinh thái mà cư dân khó sản xuất nông nghiệp đặc biệt là lúa nước. Do đó, đời sống chủ yếu của dân đảo là hoạt động đánh bắt và khai thác hải sản trên biển.
Văn hóa tộc người Văn hóa tộc người được hiểu là bao gồm những yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể giúp cho việc phân biệt tộc người này và tộc người khác. Chính văn hóa tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển của ý thức tự giác tộc người. Văn hóa tộc người là tổng thể 13 những yếu tố văn hóa mang tính đặc trưng và đặc thù tộc người, nó thực hiện chức năng cố kết tộc người làm cho tộc người này khác với tộc người khác. Tổng thể những đặc điểm sinh hoạt tộc người làm thành cái mà chúng ta thường gọi là “truyền thống tộc người”.
Những truyền thống này được hình thành lâu dài trong lịch sử được gắn liền với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trường địa lý tự nhiên trong đời sống của từng dân tộc, nhưng sau khi xuất hiện chúng trở nên bền vững và được duy trì lâu dài, thậm chí ngay sau khi hoàn cảnh sống của tộc người đã thay đổi mạnh mẽ. Các yếu tố văn hóa tộc người truyền thống làm nên diện mạo của nó bao gồm các thành tố của văn hóa vật thể (làng bản, nhà cửa, công cụ sản xuất, đồ gia dụng, quần áo, trang sức, đồ ăn thức uống…) và các thành tố văn hóa phi vật thể (tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục cưới xin, ma chay, các nghi lễ đời người, lễ hội, âm nhạc, nghệ thuật, văn học, giáo dục, sinh hoạt dòng họ, hôn nhân và gia đình…) (Nhân học đại cương, 2013, tr. Trong quá trình sinh tồn, do điều kiện địa lý tự nhiên, quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa giữa các tộc người đã làm thay đổi các yếu tố văn hóa. Mỗi tộc người trên thế giới trong quá trình sinh tồn và phát triển của mình đều sáng tạo ra cho mình một nền văn hóa của chính dân tộc đó.
Theo Ngô Văn Lệ thì “Văn hóa của tộc người là tổng thể những thành tựu văn hóa thuộc về một tộc người cụ thể nào đó. Tổng thể những thành tố văn hóa do tộc người cụ thể sáng tạo hay tiếp thu, vay mượn của các tộc người khác trong quá trình lịch sử” (2004, tr. Văn hóa tộc người bao gồm các yếu tố về văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần mang tính đặc trưng và đặc thù của tộc người giúp chúng ta phân biệt được tộc người này với 14 tộc người khác. Các yếu tố văn hóa tộc người bao gồm ngôn ngữ (tiếng mẹ đẻ), trang phục, các tín ngưỡng và nghi lễ, vốn văn hóa dân gian truyền miệng, tri thức dân gian về tự nhiên, xã hội, về bản thân con người, về sản xuất, về ẩm thực… Văn hóa tộc người là những gì tạo nên bản sắc riêng mà tộc người đó tồn tại như một thực thể, không bị hòa lẫn với tộc người khác.
Mỗi tộc người trong tiến trình lịch sử của mình đã hình thành nên bản sắc văn hóa riêng cho mình. Đặc thù văn hóa tộc người chính là dấu hiệu cơ bản của mỗi tộc người riêng biệt. Cư dân đảo Phú Quý có nguồn gốc di dân và cộng cư của các tộc người khác nhau, qua quá trình sinh sống đã có hiện tượng giao lưu văn hóa nhưng trong luận văn này, chúng tôi chỉ tìm hiểu về đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt và yếu tố biển tác động đến đời sống văn hóa của người Việt hiện nay ở đảo Phú Quý. Đời sống văn hóa Thời gian gần đây, khái niệm “Đời sống văn hóa” được đề cập khá nhiều trong các công trình nghiên cứu văn hóa.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng đa phần có nhận định rằng: đời sống văn hóa là toàn bộ các hoạt động của con người nhằm đáp ứng các nhu cầu văn hóa của con người. Do các định nghĩa về văn hóa chưa nhất trí nên chưa có được mô hình hệ thống văn hóa thống nhất. Các nhà dân tộc học trước đây đều cho rằng văn hóa bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, một số khác lại cho rằng văn hóa có ba bộ phận: văn hóa vật chất – tinh thần – xã hội. Còn các nhà văn hóa học Xô Viết thì chia văn hóa thành 4 bộ phận: văn hóa sản xuất, văn hóa đảm bảo đời sống, văn hóa nhận thức xã hội, văn hóa 15 chuẩn mực xã hội… Cách phân chia như vậy về thực chất cũng chỉ bao gồm hai bộ phận chính là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần (Ngô Văn Lệ, 2004, tr.
Tùy từng mục đích, lĩnh vực nghiên cứu, góc độ tiếp cận mà các nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa và cách phân chia Văn hóa khác nhau. Trong đó, theo định nghĩa truyền thống được nhiều người thừa nhận văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra. Chúng tôi vận dụng định nghĩa và cách phân loại này để tiếp cận đề tài nghiên cứu. Văn hóa vật chất là tổng hòa các sản phẩm vật chất do lao động sáng tạo của con người tạo nên trong một xã hội nhất định (Nhân học đại cương, 2013, tr.
Như vậy, đời sống văn hóa vật chất là các hoạt động sản xuất ra sản phẩm văn hóa vật chất nhằm đáp ứng các nhu cầu của đời sống con người. Văn hóa tinh thần (spiritual culture): văn hóa tinh thần hội tụ những khía cạnh thuộc về các lĩnh vực học thuật, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, văn học, nghệ thuật… (Nhân học đại cương, 2013, tr. Đời sống văn hóa tinh thần là những hoạt động sản xuất ra các sản phẩm văn hóa tinh thần trong đời sống con người. Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần không tồn tại độc lập, tách rời mà quan hệ tương hỗ với nhau.
Sự phân chia đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần 16 chỉ là tương đối, các yếu tố văn hóa có sự đan xen, tác động qua lại với nhau tạo nên văn hóa chung của cộng đồng người Việt tại đảo. Trong luận văn này, chúng tôi khai thác góc độ những ảnh hưởng của yếu tố biển tác động đến đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của người Việt ở đảo Phú Quý: Đời sống văn hóa vật chất được biểu hiện qua ẩm thực, trang phục, cư trú, đi lại, vận chuyển, hoạt động kinh tế. Đời sống văn hóa tinh thần chúng tôi tập trung khảo sát qua các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội, phong tục tập quán, những kiêng kỵ trong đời sống, sản xuất, văn hóa dân gian. Lý thuyết tiếp cận 1.
Lý thuyết sinh thái văn hóa (Cultural ecology) Môi trường sinh thái dù dưới góc độ nào cũng đều tác động đến khả năng thích ứng của con người, tạo nên đặc trưng văn hóa vùng miền. Lý thuyết sinh thái văn hóa nổi bật với cách tiếp cận nghiên cứu sự tương tác giữa tự nhiên và văn hóa gắn liền với tên tuổi của Julian Steward (1902 – 1972) – nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng người Mỹ, ông đã đặt nền móng cho thuyết sinh thái văn hóa. Ông quan niệm nghiên cứu sinh thái văn hóa – phân tích mối quan hệ giữa một nền văn hóa và môi trường của nó. Mục đích là tìm hiểu những biến đổi xã hội bên trong mang tính chất tiến hóa phải bắt đầu từ sự thích nghi với môi trường để biến thành một nền văn hóa tĩnh.