CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1. BẢO HIỂM Y TẾ TRÊN THẾ GIỚI 1. Lịch sử ra đừi và phát triển Trong cuộc sống của con người thường xuyên có những nguy cơ rủi ro tiềm ẩn: ốm đau, bệnh tật, chấn thương, tai nạn luôn rình rập trong mọi hoàn cảnh: lao động, sinh hoạt, học tập. Mức đô rủi ro có thể từ rất nhẹ đến rất nặng, nhũng chi phí cho những rủi ro đó tùy theo mức độ có thể rất ít nhưng cũng có thể là những khoản chi phí lớn mà không phải gia đình nào cũng có thể chi trả ngay nổi.
Xuất phát từ đó sự chia sẻ rủi ro trong cộng đồng đã xuất hiện, đó chính là các hình thức hoạt động bảo hiểm. Trên thế giới hoạt động BHYT đã hình thành từ rất lâu ví dụ ở Cộng hoà liên bang Đức b ộ luật BHYT do Th ủ t ướng Otto Von Bismarck ký năm 1883 là bộ luật về BHYT đầu tiên trên thế giới. Nguyên lý hoạt động BH YT cũng như nguyên lý hoạt động bảo hiểm khác nói chung, đó là sự đóng góp theo chu kỳ đều đặn của các thành viên trong cộng đổng, để cùng nhau chia sẻ cho những cá nhân trong cọng đồng không may bị ốm đau, tai nạn, phẫu thuật hay tử vong trên cơ sở hoạt động phải đảm bảo được an toàn quỹ BHYT [52; 44 Ị. Những quỹ BHYT đầu tiên ra đời ở Đức nhầm bảo vệ cho các thợ thủ công khi gặp tai nạn, ốm đau rủi ro mà trong những trường hợp như vậy họ không tự mình gánh vác được các chi phí y tế mà cần phải có sự trợ giúp của cộng dồng thông qua một quỹ do nhiều người đóng góp.
Sau này các đối tượng được bảo hiểm lẩn lượt được mở rộng sang các đ ối t ượng khác, trước hết là công nhân trong các xí nghiệp, sau đó là những người 4 buôn bán, nghề khác. tuy nhiên sự bao phủ BHYT cho các đối tượng trong xã hội thì phải qua một quá trình phát triển lâu dài của nền kinh tế xã hội, khi đó là BHYT xã hội mang tính bắt buộc đối với toàn dân. Ví dụ như BHYT cho nông dân ở Đức mãi tới năm 1970 khi tỷ lệ dân số nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 2% [40; 6]. Cùng với việc mở rộng đối tượng tham gia BHYT, người ta mở rộng các loại hình bảo hiểm như: khám chữa bệnh ngoại trú, khám chữa bệnh nội trú, cấp cứu phẫu thuật, áp dụng nhiều phương pháp chi trả khác nhau để bảo vệ và phát triển quỹ BHYT.
Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung, sự gia tăng chi phí trong chăm sóc y tế, chi phí y tế là gánh nặng lớn cho tất cả các quốc gia trên thế giới [16; 4 ]. Hình thức chi trả chi phí khám chữa bệnh bằng BHYT đã trở nên phổ biến và trở thành một nhu cầu không thể thiếu ớ rất nhiều nước trên thế giới. BHYT đã trở thành một nhu cầu tất yếu cùa đời sống xã hội ở một xã hội phát triển. Một sô loại hình BHYT trên thế giói ơ những nước phát triển có lịch sử ra đời và phát triển của BHYT t ừ r ất lâu thì BHYT đã trở thành một nhu cầu của xã hội.
-'ỉ' Tại các nước châu Âu: việc ban hành luật BHYT được thực hiện từ rất lâu, ví dụ ở Đức năm 1883, Áo năm 1887, Na Uy năm 1902, Anh 1910, Pháp năm 1921 [25;37J. Tại nhiều nước châu Âu như Anh, Lucxemburg, Đan Mạch, Italia, Tây Ban Nha 100% dân sô được BHYT. Đối với người dân ở những nước này BHYT đã trở thành một nhu cầu: “Một ngày không có bảo hiểm chảng khác nào leo cầu thang không có tay vịn” [281. ❖ Bảo hiểm y tê' ở Mỹ: có 3 loại bảo hiểm là Medicaid, Medicare và các quỹ BHYT tư nhân.
Mỹ là quốc gia có chi phí y tế lớn nhất thế giới: bình quân 3.600 USD/người/năm, từ năm 1960-1990 chi phí y tế tăng bình quân m ỗi năm kho ảng 4,5%. Năm 1960 chi phí y tế chiếm 5% GDP, nãm 1990 chiếm 12% và năm 1993 đã lên tới 14% [8; 31]. Năm 1996 ở Mỹ có khoảng 11,3 triệu trẻ em (15,1%) dưới 19 tu ổi không có BHYT (tăng hơn so với nãm 1993 14%- 10,3 triệu), hầu hết số trẻ em này thuộc những gia đình có thu nhập thấp. Năm 1997 nước Mỹ đã ban hành luật CHIP (State children s health insurance program), là bộ luật về thực hiện BHYT cho trẻ em Mỹ chú yếu dành cho đối tượng trẻ trong những gia đình có thu nhập thấp.
Trong năm đầu tiên sẽ dành 24 tỷ USD cho trẻ em các gia đình có thu nhập thấp chưa có BHYT. Với chương trình này trẻ em thuộc tầng lớp nghèo ở Mỹ sẽ nhận được sự chăm sóc y tế từ BHYT [511. BHYT ở Hàn Quốc: Hàn Quốc là một trong nhũng nước ở khu vực Châu Á xây dựng luật BHYT sớm, từ năm 1963 đã xây dựng chính sách về BHYT, ngay từ đó đã quyết định áp dụng chính sách BHYT tự nguyện vì tính đến khó khăn của những nhóm người có thu nhập thấp nhung do điều kiện kinh tế chưa phát triển nên số lượng tham gia ít. Mãi đến nãm 1977 khi đã trở thành một nước có nền kinh tế phát triển thì BHYT đã được thực hi ện theo lu ật BHYT.
Hiện nay tại Hàn Quốc toàn dân được BHYT. Tỷ lệ đóng BHYT hàng tháng theo luật khoảng 2-8%, trong các doanh nghi ệp gi ới chủ trả 50% và công nhân 50%, viên chức: nhà nước trả 50% còn lại do viên ch ức tr ả, có BHYT cho những người ăn theo như con cái, bố mẹ. 6 BHYT ở Nhật Bản: ra đời từ rất sớm năm 1922 và hoàn thiện luật BHYT năm 1961. Toàn dân được bảo hiểm y tế.
Bảo hiểm y tê ớ các nước châu Á trong thời kỳ chuyên đổi Các nước từ Trung Á của Liên Xô cũ sang những nước có nền kinh t ế đang trong thời kỳ chuyển đổi có nền kinh tế mới nổi như Trung Qu ốc, Lào, Vi ệt Nam.đang có quá trình cải cách thị trường mạnh mẽ. Một số đặc điểm nổi bật của các nước này như sự phụ thuộc có tính lịch sử lâu đời vào nguồn vốn và bao cấp dịch vụ y tế, các chỉ số về y tế tương đối thấp so với mức thu nhập, cơ sở hạ tầng cho nghành y tế tương đối lớn. Sự giảm bớt nguồn vốn cấp cho ngành Y tế trong chuyển đổi về cơ chế thị trường đã tác động đến hoạt động châm sóc sức khoẻ nói riêng cũng nh ư nh ững chi tiêu công c ộng khác nói chung. Một nghiên cứu gần đây cứa Ensor và Thomson 1989 cho thấy 23 trong số 26 nước đang chuyển đổi đang thực hiện hoặc hoặc thảo luận về việc áp dụng chế độ bảo hiểm y tế [54].
Việc phát triển BHYT như thế nào ở các nước thuộc khu vực này đang là một ch ủ đ ề nghiên cứu của các quốc gia cũng như sự tập trung nghiên cứu của các chuyên gia [54J. Điểm qua một số loại hình báo hiểm y tê ở một số nước trên đây cho chúng ta thấy các loại hình BHYT khá đa dạng, về cách thức tổ chức cũng nh ư đ ối t ượng tham gia. Hầu hết ở các nước không có chương trình bán BHYT riêng cho tré em mà đ ối t ượng này thường được BHYT dưới dạng BHYT ãn theo. Các nghiên cứu về các chương trình BHYT tự nguyện, phi lợi nhuận ngày càng nhiều trong những năm gần đây do sự quan tâm về chính sách, đến mục tiêu chính sách quan trọng của BHYT là công bằng và mở rộng việc sử dụng dành cho người nghè-.
Các nghiên cứu về BHYT tự nguyện cho thấy có rất nhiều yếu t ố tác đ ộng đ ến s ự thành công của chương trình này. Trước hết đó là sự nhận thức, ý thức của người dân về các khái niệm bảo hiểm, thói quen lựa chọn dịch vụ y tế, xu hướng thích sử dụng dịch vụ y tế sẵn có, sự thuận tiện. Sự phát triển kinh tế xã hội nói chung cũng như điều kiện kinh tế mỗi một cá nhân trong cộng đồng nói riêng, điều ki ện s ống, s ự khác bi ệt v ề kho ảng cách địa lý, sự tác động của các phong trào xã hội. và Mueller K năm 1992 qua phân tích các yếu tố kinh tế xã hội của các đối tượng không tham gia BHYT đã đưa ra nhận xét là các yếu tố kinh tế, đặc biệt là thu nh ập và việc làm có vai trò quan trọng trong việc tham gia BHYT.
Tại các vùng nông thôn người dân thiếu các chương trình BHYT mặc dù tỷ trọng lớn hơn trong dân số [47]., 1995, đánh giá các yếu tô kinh tế xã h ội c ủa ch ương trình BHYT t ự nguyện cho nông dân ở 3 nước Burundi, Guine Bissau và Ghana cho thấy nhận thức về BHYT, chất lượng cung cấp dịch vụ y tế của BHYT cũng như th ời đi ểm phát hành th ẻ liên quan mật thiết đến nhau. Các yếu tố trên có tác động lớn đến việc chấp nhận và khả năng tham gia BHYT của người dân [45]. Tại Burundi, 54% số hộ gia đình tham gia chương trình BHYT quốc gia, trong số này 49% chấp nhận mức giá cao hơn gấp hai lần giá thẻ tại thời điểm nghiên cứu để mong có được chất lượng khám chữa bệnh bằng BHYT tốt hơn, 7% số hộ gia đình đưa ra lý do không tham gia BHYT là tình trạng sức khoẻ tốt nên ch ưa nghĩ t ới nhu c ầu khám ch ữa bệnh. Nhận thức không đầy dủ về BHYT cộng với chất lượng cung cấp dịch vụ y t ế kém nhận được khi đau ốm là những lý do dẫn tới việc không mua thẻ BHYT [45 ].
Tại Ghana 45% người nông dân muốn trả tiền thẻ cao gấp hai lần/1 năm, 7% muốn trả BHYT theo tháng do họ có diều kiện kinh tế khó khăn, thu nhập thấp. Tỷ lệ chấp nhận BHYT tự nguyện ỏ' đây cao là do người dân ý thức được ý nghĩa cùng nhau chia sẻ những nguy cơ liên quan đến ốm đau thông qua quỹ BHYT [45 Ị. Bất cứ một chương trình BHYT nào dù là bắt buộc hay tự nguy ện thì ph ổ c ập b ảo hiểm vẫn là mục tiêu cuối cùng, việc tham gia của số đông cộng đồng, mức huy động phù hợp với các dịch vụ y tế được hưởng, nhận thức của người tham gia bảo hiểm tốt, hạn chế thấp nhất những “ rủi ro đạo đức”, ổn định và phát triển được quỹ BHYT đó là những chìa khoá quyết định cho sự thành công và phát triển của chương trình [48].