Chương 1 TỔNG QUAN, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan Để có cái nhìn tổng thể về vấn đề nghiên cứu, tác giả sẽ nêu tóm tắt một số nghiên cứu, tài liệu sách, báo, tạp chí về vấn đề liên quan đến kết quả học tập của HS. Các tài liệu nghiên cứu về điểm số Theo một nghiên cứu so sánh điểm số của học sinh từ 63 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, học sinh lớp 8 ở Hàn Quốc được xếp hạng đầu tiên về Toán học và xếp hạng thứ ba về các môn Khoa học. Thành tích của HS được xác định bởi điểm số mà các em thu được trong các bài kiểm tra ở mỗi môn học.
Việc học sinh Hàn Quốc có điểm số nổi bật trong các môn Toán học và Khoa học có thể có được do chính sách của chính phủ về việc đưa ra sự giảng dạy khác nhau tùy theo mức độ của học sinh. Chính sách này bắt đầu từ tháng 12 năm 1997. Nghiên cứu trên cũng cho thấy các giáo viên dạy học sinh lớp 4 ở Hàn Quốc có mức độ tham gia vào các hoạt động nâng cao kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực khoa học ở mức cao so với mức trung bình quốc tế. Thành tích xuất sắc của học sinh Hàn Quốc được hỗ trợ bởi lòng nhiệt tình lớn cho giáo dục của các phụ huynh cũng như giáo viên.
Mức độ chuyên nghiệp của giáo viên Hàn Quốc đã được đánh giá cao trong số các nước đã tham gia vào nghiên cứu này (Kim Soo-jin, 2011)[23]. (2005), kết luận rằng điểm số trên các bài kiểm tra của HS có cha mẹ có trình độ học vấn cao hơn so với những HS có cha mẹ không được giáo dục. Cha mẹ có trình độ học vấn có thể giao tiếp tốt 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hơn với con cái của họ về việc học ở nhà, các hoạt động và các thông tin đang được giảng dạy tại trường. Tốt hơn nữa họ có thể giúp con cái của họ trong công việc học tập ở nhà và tham gia ở trường[24].
Có khoảng cách giữa thành tích học tập của HS nam và HS nữ, với những HS nữ có thành tích học tập cao hơn HS nam trong các trường hợp nhất định (Chambers & Schreiber, 2004)[12]. Tại Việt Nam, tác giả Hoàng Thu Huyền (2012) cho rằng yếu tố trường học và giới tính, việc là cán bộ lớp ảnh hưởng tới sự khác biệt về điểm số của học sinh[3]. Theo Hoàng Khắc Tiệp (2012) cho rằng, kế hoạch dài hạn cũng như ngắn hạn của người quản lý giáo dục cụ thể và chi tiết, xác định những mục tiêu và quyết định những biện pháp có tính khả thi. Từ đó tạo nên sự đồng thuận, phân phối, sắp xếp các nguồn lực một cách khoa học, hợp lý, huy động mọi lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch nhằm hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra.
Đồng thời, người quản lý thực hiện tốt chức năng chỉ đạo, kiểm tra đánh giá, kết hợp với công tác thông tin trong quản lý hoạt động bồi dưỡng HS giỏi với phương châm “duy trì - ổn định - đổi mới - phát triển” thì kết quả thi học sinh giỏi của nhà trường sẽ được nâng cao[7]. Viện khoa học giáo dục Việt Nam (2007), từ cuộc khảo sát cho thấy có sự khác nhau về điểm số học tập từng môn học, cụ thể như môn toán và môn tiếng Việt có 5. Song có một điểm chung là nhân tố "nền tảng gia đình" luôn đứng ở vị trí tác động cao nhất đến điểm số học tập của các em học sinh tiểu học. "Nền tảng gia đình" ở đây bao gồm các yếu tố môi trường, điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, hoàn cảnh gia đình, trình độ học vấn của cha mẹ, sự chăm lo của người thân với HS… Tác động của yếu tố "nền tảng gia đình" 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khiến độ dao động của kết quả học tập lên tới 8,2%; tiếp đến mới là cơ sở vật chất nhà trường: 4,44%, đội ngũ giáo viên: 3,4%.
Các tài liệu nghiên cứu về các yếu tố Một nghiên cứu của Mark Schneider (2002), cho rằng môi trường sạch sẽ, yên tĩnh, an toàn, thoải mái là những thành phần quan trọng trong công tác giảng dạy và học tập hiệu quả. Nghiên cứu những thuộc tính cơ sở ảnh hưởng đến kết quả học tập được kiểm tra ở đây gồm các yếu tố: chất lượng không khí, thông gió, và tiện nghi về nhiệt, ánh sáng, âm thanh, kích thước và quy mô lớp học [25]; Theo Feranchak và cộng sự (2002) “yếu tố tác động đến chất lượng giáo dục đó là chất lượng giáo viên và khả năng của giáo viên trong việc tiếp cận với công tác phát triển chuyên môn là một trong những điều kiện tiên quyết mà nhà trường cần phải kiểm soát để cải tiến chất lượng học tập của HS” [19]; Trong nghiên cứu của mình, Darling-Hammond (2006) cho rằng khả năng chuyên môn của giáo viên có tác động lớn đến việc học của HS và chỉ xếp thứ hai sau các yếu tố gia đình của HS [16] và Pianta và cộng sự (1999) đầu tư vào việc giúp đỡ giáo viên rèn luyện chuyên môn là cách đầu tư có hiệu quả nhất để nâng cao thành tích học tập của HS [26] ; từ một cuộc khảo sát 50 nhà nước các chính sách, nghiên cứu, các trường học 1993-1994 và Điều tra Nhân sự, và các đánh giá quốc gia về Tiến Bộ Giáo Dục để xem xét cách thức mà trình độ giáo viên và các đầu vào khác của trường có liên quan đến thành tích học sinh trên toàn quốc. Phát hiện cho thấy rằng đầu tư chính sách về chất lượng giáo viên có thể liên quan để cải thiện thành tích học sinh. (Darling-Hammond (2000)) [17] Các yếu tố bao gồm tuổi tác, giới tính, địa lý, dân tộc, tình trạng hôn nhân, tình trạng kinh tế xã hội, trình độ học vấn của cha mẹ, nghiệp vụ 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuyên môn, ngôn ngữ, thu nhập của cha mẹ và các cộng đồng tôn giáo là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập của HS (Clark, Reginald (1993)).
[15] Wilma và cộng sự có một nghiên cứu về xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố cá nhân, hỗ trợ xã hội, cảm xúc hạnh phúc, và thành tích học tập trong 65 học sinh trung học có năng khiếu, một mẫu được rút ra từ một nghiên cứu theo chiều dọc của hơn 950 sinh viên. Nghiên cứu đã chứng minh rằng, so với các HS bình thường, HS năng khiếu có kết quả học tập cao hơn đáng kể cho tất cả các môn học, ngoại trừ Địa lý và Giáo dục thể chất. Giáo viên đánh giá học sinh năng khiếu như là điều chỉnh và ít có khả năng có vấn đề về hành vi hoặc cảm xúc hơn so với HS bình thường. [29] Tác giả Võ Thị Tâm (2010) cho rằng, Phương pháp học tập có tác động cùng chiều đến kết quả học tập của sinh viên, khi sinh viên có phương pháp học tập hiệu quả thì việc học trở nên dễ dàng và đạt kết quả cao; kiên định học tập của sinh viên cũng đóng vai trò quan trọng đối với kết quả học tập của sinh viên tại trường đại học.
Khi sinh viên càng kiểm soát được những khó khăn và thách thức trong học tập thì kết quả học tập càng cao; ấn tượng trường học cũng có tác động cùng chiều đến kết quả học tập. Khi sinh viên cảm nhận giá trị của việc học tập tại trường đại học càng cao thì kết quả học tập cũng tăng theo. [6] Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học là một phần không thể thiếu trong quá trình dạy học. Nó là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình giáo dục, góp phần quyết định đến chất lượng giáo dục của nhà trường.
Việc khai thác, sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học, đồ dùng thí nghiệm có tác dụng rất quan trọng trong việc rèn kỹ năng cho HS. Các tài liệu nghiên cứu về mối quan hệ 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một nghiên cứu khác về cha mẹ khó khăn trong kinh tế không thể đủ khả năng chi phí cho giáo dục của con cái và do đó các em không phát huy tối đa tiềm năng của mình trong học tập (Barrow và cộng sự, 2006). [10] Theo Đinh Thị Trinh (2012), sự tác động của giáo viên đến học sinh ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em rất lớn. Do đó, trong môi trường giáo dục, giáo viên nên thể hiện sự kỳ vọng tích cực của mình tới học sinh thay vì thể hiện kỳ vọng tiêu cực thì các em sẽ có động lực học tập tốt và đem lại kết quả học tập cao.
[8] Mỗi gia đình có hoàn cảnh và phương pháp giáo dục con cái khác nhau nhưng để giáo dục hiệu quả thì những biện pháp sau cần được phát huy: Quan tâm đúng mức đến tâm tư và việc học tập của con; có phương pháp khuyến khích, động viên con trong học tập; không tạo áp lực cho con…(Bế Thị Điệp, 2012) [1] Yếu tố vùng, miền cũng thể hiện rất rõ, nếu như điều kiện kinh tế - xã hội nơi gia đình sinh sống phát triển thì sự quan tâm dành cho HS cũng tốt hơn. HS khó học tốt nếu hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là vấn đề đáng được các cấp quản lý, chính quyền quan tâm nhằm tạo cơ hội học tập thành công, bình đẳng cho mọi HS, kéo gần sự chênh lệch về chất lượng giữa các vùng, miền. Theo vị trí trường học đóng, sự chênh lệch về tỷ lệ HS dưới chuẩn giữa khu vực thành thị và khu vực vùng sâu, vùng xa cũng khá lớn: 17% ở môn Toán và 21,1% ở môn tiếng Việt.
Sự phân hóa trong kết quả học tập của HS giữa các khu vực thành thị, nông thôn, vùng sâu; giữa các vùng thể hiện rất rõ rệt qua bản khảo sát (Viện khoa học giáo dục Việt Nam (2007). 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tóm lại, các nghiên cứu về kết quả học tập rất phong phú. Tuy nhiên, các nghiên cứu đa số chỉ nghiên cứu về đối tượng là sinh viên, rất hạn chế trong các đối tượng học sinh và đặc biệt là môn Tin học tự chọn (môn học tự chọn được Bộ GD&ĐT đưa vào dạy từ năm học 2006-2007 đến nay). Các lý thuyết nghiên cứu liên quan 1.