Chương 1: Giới thiệu - Chương 2: Tổng quan học thuật - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Chương 5: Kết luận và kiến nghị z 5 Chƣơng 2: TỔNG QUAN HỌC THUẬT Chương 2 của luận văn sẽ giới thiệu tổng quan cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với dịch vụ tiền gửi ngân hàng, các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu.1 Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 2.1 Khái niệm ngân hàng thƣơng mại Luật các Tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 06 năm 2010, định nghĩa: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Tại khoản 12 Điều 4 luật này cũng giải thích: Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.2 Dịch vụ của ngân hàng thƣơng mại Trong bảng phân loại các dịch vụ của Tổ chức thương mại thế giới WTO, dịch vụ tài chính được xếp vào phân ngành thứ 7 trong 12 phân ngành dịch vụ và “Một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác”. Dịch vụ ngân hàng bao gồm: nhận tiền gửi và các khoản phải trả từ công chúng; cho vay dưới hình thức: tín dụng tiêu dùng, cầm cố thế chấp, bao thanh toán và tài trợ thương mại; thuê mua tài chính; môi giới tiền tệ; quản lý tài sản; các dịch vụ thanh toán và bù trừ tài sản tài chính, các dịch vụ tư vấn và trung gian môi giới,… Theo Luật TCTD 2010 sửa đổi, không nêu dịch vụ ngân hàng mà chỉ nêu hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.2 Lý luận về dịch vụ tiền gửi ngân hàng 2.1 Khái niệm Theo Khoản 13- Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam (2010) thì nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.
Tuy nhiên nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá ít được thực hiện thường xuyên mà tùy thuộc vào từng giai đoạn, mục đích sử dụng vốn, nhu cầu vốn của NHTM và trong phạm vị nghiên cứu cho phép, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu nghiệp vụ nhận tiền gửi dành cho khách hàng cá nhân.2 Phân loại Nghiệp vụ nhận tiền gửi mà NHTM cung cấp cho khách hàng cá nhân có thể có nhiều hình thức tiền gửi khác nhau nhưng có thể xếp thành các loại tiền gửi chính là: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm (Nguyễn Thị Loan, 2011). Tiền gửi thanh toán hay tiền gửi không kỳ hạn với mục đích chính là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, mục đích hưởng lợi đối với loại tiền gửi này chỉ giữ vai trò thứ yếu. Ngân hàng có thể trả lãi với lãi suất thấp hoặc cũng có thể không trả lãi đối với loại tiền gửi này. Nếu ngân hàng trả lãi, tiền lãi sẽ được tính theo phương pháp tích số cho một chu kỳ, thông thường là theo tháng vì tính chất của loại tiền gửi này là số dư biến động thường xuyên do khách hàng có quyền gửi tiền vào và rút tiền ra bất cứ lúc nào.
Tiền lãi tiền gửi = x Nj x Lãi suất (công thức 1) Di: Số dư thực tế ngày thứ i Nj: Số ngày tương ứng với số dư ngày thứ i z 7 Tiền lãi sau khi tính sẽ được ngân hàng chuyển vào tài khoản tiền gửi không kỳ hạn cho khách hàng. Tiền gửi có kỳ hạn là những khoản tiền gửi có kỳ đáo hạn cố định cho một số tiền nhất định nào đó. Tiền gửi có kỳ hạn luôn được trả lãi. Lãi suất được các ngân hàng ấn định tùy thuộc vào thời hạn gửi và thường thay đổi theo thời kỳ.
Khách hàng chỉ được hưởng toàn bộ tiền lãi nếu rút tiền đúng kỳ hạn. Lãi tiền gửi = Số dư tiền gửi x lãi suất x thời hạn gửi (công thức 2) Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên sổ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Tiền gửi tiết kiệm thường được chia thành: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là một loại sản phẩm mà ngân hàng cung ứng để giúp khách hàng tích lũy dần những khoản tiền nhỏ để đáp ứng một khoản chi tiêu nào đó trong tương lai mà vẫn được hưởng lãi.
Khi gửi tiền gửi không kỳ hạn, khách hàng được cấp sổ tiền gửi, có thể tùy ý gửi tiền hoặc rút tiền nên lãi suất áp dụng cho loại tiền gửi này thường thấp. Tiền lãi tiết kiệm không kỳ hạn được tính như cách tính lãi tiền gửi thanh toán tại công thức 1. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn ngoài việc trả lãi cho khách hàng – tiền lãi được tính như cách tính lãi tiền gửi có kỳ hạn ở công thức 2, thường còn đi kèm với mục đích cụ thể như: tiết kiệm để mua nhà ở, tiết kiệm có thưởng,… Căn cứ vào phương thức trả lãi có thể chia tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thành tiết kiệm lĩnh lãi đầu kỳ, tiết kiệm lĩnh lãi cuối kỳ hoặc tiết kiệm lĩnh lãi định kỳ theo tháng hoặc quý,… 2.3 Vai trò của tiền gửi trong hoạt động kinh doanh của NHTM Nghiệp vụ nhận tiền gửi tuy không trực tiếp tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng nhưng là cơ sở, là tiền đề quyết định thắng lợi trong kinh doanh của NHTM bởi vì: z 8 - Nghiệp vụ nhận tiền gửi giúp tạo nguồn vốn chủ yếu cho kinh doanh của ngân hàng, thông qua nghiệp vụ này ngân hàng gần như giải quyết trọn vẹn yếu tố “đầu vào” trong hoạt động kinh doanh của mình. - Nguồn tiền gửi dồi dào là điều kiện thuận lợi giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động, gia tăng lợi nhuận nhờ vào việc mở rộng được nhiều dịch vụ, kinh doanh đa năng, thoát khỏi những hình thức kinh doanh đơn điệu truyền thống.
- Tiền gửi huy động còn là nguồn dự trữ quyết định khả năng thanh khoản, đảm bảo an toàn và uy tín cho ngân hàng. - Thông qua nghiệp vụ tiền gửi, các NHTM còn có thể đo lường được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng, tạo lập chỗ đứng vững chắc, uy tín trên thị trường (Nguyễn Minh Kiều, 2009).3 Lý luận về sự hài lòng của khách hàng 2.1 Khái niệm sự hài lòng của khách hàng Khách hàng được hài lòng là một yếu tố quan trọng để duy trì thành công lâu dài trong kinh doanh của mọi doanh nghiệp. Có nhiều khái niệm về sự hài lòng của khách hàng như: Sự hài lòng của khách hàng là phản ứng của họ về sự khác biệt cảm nhận giữa kinh nghiệm đã biết và sự mong đợi (Parasuraman & cộng sự, 1988), nghĩa là kinh nghiệm đã biết của khách hàng khi sử dụng một dịch vụ và kết quả sau khi dịch vụ được cung cấp. Sự hài lòng là cảm giác vui thích hay thất vọng của một người bắt nguồn từ sự so sánh cảm nhận với mong đợi về một sản phẩm (Phillip Kotler, 2000).
Theo Kotler & Keller (2006), sự hài lòng có 3 cấp độ: Nếu nhận thức của khách hàng nhỏ hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận không hài lòng; nếu nhận thức bằng kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận hài lòng; nếu nhận thức lớn hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận là rất hài lòng hoặc thích thú.2 Đo lƣờng sự hài lòng của khách hàng Theo Bernd Stauss & Patricia Neuhaus (1997), có thể phân loại mức độ hài lòng của khách hàng thành ba loại và chúng có sự tác động khác nhau đến nhà cung cấp dịch vụ mà liên quan đến đề tài nghiên cứu là các NHTM: Hài lòng tích cực (Demanding customer satisfaction): đây là sự hài lòng mang tính tích cực và được phản hồi thông qua nhu cầu sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng ngày một tăng lên. Đối với những khách hàng có sự hài lòng tích cực, họ và ngân hàng sẽ có mối quan hệ tốt đẹp, tín nhiệm lẫn nhau và cảm thấy hài lòng khi giao dịch. Yếu tố tích cực còn thể hiện ở chỗ chính từ những yêu cầu không ngừng tăng lên của khách hàng, ngân hàng càng nỗ lực cải tiến chất lượng dịch vụ để trở nên hoàn thiện hơn. Hài lòng ổn định (Stable customer satisfaction): Đối với những khách hàng có sự hài lòng ổn định, họ sẽ thấy thoải mái và hài lòng với những gì đang diễn ra và không muốn có sự thay đổi trong cách cung cấp dịch vụ của ngân hàng.
Những khách hàng này thường tỏ ra dễ chịu, có sự tin tưởng cao đối với ngân hàng và rất sẵn lòng tiếp tục sử dụng dịch vụ của ngân hàng. Hài lòng thụ động (Resigned customer satisfaction): những khách hàng có sự hài lòng thụ động ít tin tưởng vào ngân hàng và sẽ cho rằng rất khó để ngân hàng có thể cải thiện được chất lượng dịch vụ hay thay đổi theo yêu cầu của mình. Khách hàng cảm thấy hài lòng không phải vì ngân hàng thỏa mãn hoàn toàn nhu cầu mà vì họ nghĩ rằng sẽ không thể nào yêu cầu ngân hàng cải thiện tốt hơn nữa. Theo Terrence Levesque và Gordon H.