CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của thời đại, hoạt động đó không chỉ diễn ra ở các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, khoa học công nghệ mà còn cả lĩnh vực giáo dục đào tạo (GDĐT). Nếu như trước đây, giáo dục được xem như một hoạt động sự nghiệp đào tạo con người mang tính phi thương mại, phi lợi nhuận thì theo thời gian do sự tác động của các yếu tố bên ngoài, đặc biệt là sự tác động của nền kinh tế thị trường đã dần thay đổi bản chất của hoạt động giáo dục không còn thuần túy là một phúc lợi công mà là dịch vụ công, chính xác hơn là đã hình thành một thị trường cung cấp “dịch vụ đào tạo” rõ nét. Chính điều này, đã dẫn đến việc mọc lên một cách ồ ạt các trường đào tạo công và tư với quy mô lớn và mức lan rộng một cách nhanh chóng, hệ lụy của nó chính là cung ra thị trường lao động một lực lượng lao động kém chất lượng không thể đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng.
Trước thực trạng đó, thiết nghĩ vấn đề đặt ra lúc này đối với các cơ sở tham gia cung cấp dịch vụ đào tạo là bên cạnh việc gia tăng về mặt quy mô đào tạo hàng năm thì vấn đề đo lường sự hài lòng của khách hàng (Sinh viên - SV) là vấn đề cấp thiết, vì trong quản lý chất lượng hiện đại, triết lý hướng đến khách hàng đang đóng vai trò chủ đạo. Một trong những yếu tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp là sự thỏa mãn của khách hàng về chất lượng sản phẩm - dịch vụ mình cung ứng. Chất lượng này phải được đánh giá bởi chính khách hàng chứ không phải bởi doanh nghiệp. Như vậy, nếu giáo dục đại học như một dịch vụ, việc khảo sát đánh giá chất lượng dịch vụ qua ý kiến của khách hàng, trong đó khách hàng trọng tâm - SV là điều cần thiết.
Qua đó, nhà trường có các nhìn nhận khách quan về những gì mình đã cung cấp, những gì mình được kỳ vọng thay vì chỉ quan tâm đến trình độ đầu vào của SV và nhu cầu của chính nhà trường. 1 Hơn thế nữa, áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt trong thị trường dịch vụ giáo dục ở Việt Nam với sự tham gia không chỉ của các cơ sở đào tạo trong nước mà còn sôi động hơn khi có sự tham gia của các Tập đoàn giáo dục quốc tế. Trong tương lai, Việt Nam sẽ mở cửa cho Hoa Kỳ tham gia kinh doanh giáo dục đại học với mức đầu tư 100% theo hiệp định thương mại Việt - Mỹ; rồi sau khi gia nhập WTO, chắc chắn, các quốc gia xuất khẩu giáo dục khác cũng sẽ có được quyền này. Trường Đại Học Đồng Tháp (ĐHĐT), là một trường đại học khá non trẻ trong khu vực nhất là đào tạo về lĩnh vực kinh tế.
Nhận rõ điều này, Ban lãnh đạo (BLĐ) nhà trường không ngừng quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đào tạo (CLĐT), nhà trường thường tổ chức lấy ý kiến đánh giá của SV về giảng viên giảng dạy học phần. Tuy nhiên, thông tin thu thập được chưa mang tính khái quát và toàn diện nên dẫn đến thiếu căn cứ để BLĐ đưa ra giải pháp. Ý định là thế nhưng cách thức tổ chức, thu thập và xử lý thông tin cũng còn nhiều bất cập. Xuất phát từ các lý do trên, cũng như muốn giúp nhà trường thực hiện được ý định của mình, góp phần cung cấp cho BLĐ một căn cứ khách quan làm cơ sở cho việc đưa ra giải pháp nhằm mang lại sự hài lòng cao cho Khách hàng của mình.
Đó là lý do mà Tác giả quyết định chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của Sinh viên về chất lượng đào tạo ngành kinh tế tại Trường Đại Học Đồng Tháp” để nghiên cứu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU Đã có nhiều tác giả đã đưa ra cách tiếp cận và thang đo về khái niệm “Chất lượng dịch vụ”: Parasuraman, Zeithaml và Berry (1985:1988, dẫn theo Nguyễn Đình Thọ, 2003), những nhà nghiên cứu tiếp thị tiên phong trong lĩnh vực này, đã định nghĩa chất lượng dịch vụ như khoảng cách giữa chất lượng kỳ vọng và chất lượng cảm nhận của khách hàng. Các tác giả đã giới thiệu thang đo đa hướng SERVQUAL với 10 thành phần để đo lường chất lượng dịch vụ. Thang đo này nhanh chóng trở nên nổi tiếng, được kiểm định ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực, đóng 2 góp nhiều giá trị thực tiễn và làm nảy sinh không ít tranh luận.
Từ SERVQUAL, Cronin & Taylor (1992, dẫn theo Thongsamak, 2001) đã đề nghị thang đo SERVPERF, đo lường chất lượng dịch vụ từ chính kết quả cảm nhận thay vì khoảng cách giữa cảm nhận và kỳ vọng. Các thang đo này cũng được sử dụng trong một số nghiên cứu về CLĐT đại học, tuy chưa nhiều. Nói chung, kết quả các nghiên cứu này khẳng định độ tin cậy và giá trị các thang đo trên, ngoài ra, còn nhận thấy có sự khác biệt trong đánh giá chất lượng theo một số yếu tố nhân khẩu học và thuộc tính đặc trưng của “khách hàng”. Ngoài ra, đề tài này cũng đã tham khảo một số nghiên cứu trước đó: 1.
Nghiên cứu nước ngoài: • Sherry, Bhat, Beaver & Ling (2004) đã tiến hành đo lường kỳ vọng và cảm nhận của SV bản xứ và SV nước ngoài về Học viện Công nghệ UNITEC, Auckland, New Zealand với thang đo 5 thành phần phân biệt như nguyên thủy; tất cả các khoảng cách giữa cảm nhận và kỳ vọng của 5 thành phần đều âm và có ý nghĩa, điều này cũng có nghĩa UNITEC còn nhiều việc phải làm để nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo. Trong khi chất lượng kỳ vọng của SV trong nước và bản xứ khác nhau không đáng kể, thì chất lượng cảm nhận của SV nước ngoài thấp hơn nhiều. Do đó, SV nước ngoài có khoảng cách cảm nhận - kỳ vọng lớn hơn, trong đó, khoảng cách đáng kể nhất là thuộc về các thành phần Cảm thông, Năng lực phục vụ và Khả năng đáp ứng. SERVQUAL 5 thành phần với 20 biến quan sát.
Kết quả nghiên cứu cho thấy thang đo đạt độ tin cậy. • Cũng sử dụng thang đo SERVQUAL, Chua (2004) đã nghiên cứu đánh giá CLĐT đại học theo nhiều quan điểm khác nhau: SV, phụ huynh, giảng viên và người sử dụng lao động. Kết quả cho thấy trong hầu hết các thành phần của SERVQUAL, SV, phụ huynh và người sử dụng lao động đều kỳ vọng cao hơn những gì họ nhận được. Riêng các giảng viên, sự khác biệt giữa cảm nhận và kỳ vọng xuất hiện ở hai thành phần Phương tiện hữu hình và Năng lực phục vụ.
3 Lưu ý rằng kích thước mẫu ở nghiên cứu này là không lớn lắm : SV: 35; phụ huynh: 27; giảng viên: 10; người sử dụng lao động: 12. • Ở một cỡ mẫu lớn hơn nhiều, Snipes, R.Thomson (1999) tìm hiểu các nhân tố tác động đến chất lượng cảm nhận trong đào tạo đại học của SV qua điều tra ý kiến SV 6 trường đại học có qui mô nhỏ và vừa trong 3 bang của Hoa Kỳ. Các giảng viên các trường cũng được mời tham gia. Về thang đo, các nhà nghiên cứu này đã hiệu chỉnh SERVQUAL hai bộ phận: kỳ vọng và cảm nhận thành một thang duy nhất bằng cách đưa ra các câu hỏi về chất lượng dịch vụ nhận được có thấp hơn hay vượt quá mong đợi hay không.
Thang đo này đã được một số nhà nghiên cứu trước sử dụng. Các biến kiểm soát chủ yếu trong nghiên cứu là các biến nhân khẩu học, khối lượng công việc, kinh nghiệm của giảng viên; các biến nhân khẩu học, kinh nghiệm học tập, kết quả học tập và cảm nhận của SV về sự đánh giá công bằng của nhà trường. Kết quả phân tích dữ liệu hồi đáp cho thấy từ 5 thành phần nguyên thủy của SERVQUAL chỉ còn 3 thành phần đủ độ tin cậy và giá trị phân biệt: (1) Cảm thông ; (2) Năng lực đáp ứng & Tin cậy; (3) Phương tiện (môi trường học tập, làm việc) hữu hình. Sự Cảm thông và quan tâm của giảng viên đến SV là yếu tố quan trọng nhất cho đánh giá chất lượng.
Ngoài ra các biến kiểm soát sau là có ý nghĩa trong tác động đến chất lượng dịch vụ cảm nhận của SV: (1) giới tính, (2) năm học tập của SV tại trường và (3) mức công bằng trong đánh giá của giảng viên. Nghiên cứu trong nước • Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Long (2006) với đề tài: “Sử dụng thang đo SERVPERF để đánh giá CLĐT đại học tại trường ĐH An Giang” Nghiên cứu được tiến hành theo hai bước: sơ bộ và chính thức. Nghiên cứu sơ bộ định tính sử dụng kỹ thuật thảo luận nhóm để hiệu chỉnh thang đo, hoàn chỉnh bảng câu hỏi cho bước sau. Nghiên cứu chính thức định lượng sử dụng kỹ thuật bút vấn để thu thập dữ liệu.
Sau đó, tiến hành làm sạch, phân tích xử lý dữ liệu với sự hỗ trợ của SPSS. Mẫu được lấy thuận tiện theo đơn vị lớp, có 4 trên 600 hồi đáp hợp lệ, phân bố mẫu đạt yêu cầu phân tích. Khởi đầu phân tích là đánh giá các thang đo bằng độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố. Kế tiếp phương pháp hồi quy đa biến và phân tích khác biệt được dùng để kiểm định sự phù hợp của mô hình lý thuyết cùng các giả thuyết đã đặt ra.
Các thang đo sau khi hiệu chỉnh nói chung đều đạt độ tin cậy và giá trị phân biệt yêu cầu. Điểm nổi bật từ kết quả đánh giá thang đo SERVPERF là với 5 thành phần nguyên thuỷ hướng đến đặc trưng cung ứng của một gói dịch vụ: (1) Phương tiện hữu hình, (2) Tin cậy, (3) Đáp ứng, (4) Năng lực phục vụ và (5) Cảm thông đã biến thái thành 5 thành phần hướng đến đặc trưng cung ứng của từng bộ phận (đối tượng) cung ứng: (1) Giảng viên, (2) Nhân viên, (3) Cơ sở vật chất, (4) mức Tin cậy vào Nhà trường và (5) sự Cảm thông của Nhà trường. Kết quả hồi quy cho thấy Sự hài lòng của SV chỉ phụ thuộc ba trong số năm thành phần SERVPERF là (1) Giảng viên, (2) Cơ sở vật chất, (3) mức Tin cậy vào Nhà trường. Thứ tự này cũng biểu diễn độ lớn vai trò từng thành phần đối với Sự hài lòng.
Các phân tích khác biệt cũng cho vài kết quả đáng chú ý. • Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thắm (2010) với đề tài: “Khảo sát sự hài lòng của SV đối với hoạt động đào tạo tại trường ĐH Khoa Học Tự Nhiên, ĐH Quốc Gia TP.