Chương I: Như vậy, Chương I đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, các vấn đề liên quan như: mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, thời gian nghiên cứu, đóng góp của đề tài vào thực tiễn cũng như cấu trúc của đề tài. 4 CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN 2.1 Khái quát về thủ tục hành chính 2.1 Thủ tục hành chính Thủ tục hành chính đã được định nghĩa theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 63/2010/NĐ-CP: “Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức.” Theo Điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948: “Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.” kết hợp cùng Nghị định 63/2010/NĐ-CP được đưa ra nhằm phản ảnh được tính khách quan và công bằng giữa nhân dân với Nhà nước; giữa các cơ quan có thẩm quyền cung cấp thủ tục hành chính với tổ chức, cá nhân có nhu cầu được giải quyết thủ tục hành chính. Vì vậy mà người dân có thể tiếp cận khái niệm về thủ tục hành chính một cách chính xác. Thủ tục hành chính được quy định để các cơ quan Nhà nước có thể thực hiện hoạt động quản lý Nhà nước.
Thông qua TTHC, các cá nhân, tổ chức có thể dễ dàng thực được quyền của mình.2 Đặc điểm của thủ tục hành chính nhà nước Nguyễn Ngọc Hiếu và cộng sự (2006) đã chỉ ra những đặc điểm riêng biệt của dịch vụ hành chính công, giúp phân biệt dịch vụ hành chính công với những dịch vụ công cộng khác ở các điểm sau: Đặc điểm đầu tiên của việc cung ứng dịch vụ hành chính công là hành chính công luôn đi liền với thẩm quyền và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước – hành chính công mang tính quyền lực pháp lý trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ có tính pháp lý của các tổ chức xã hội và công dân như cấp các loại giấy phép, giấy khai sinh, công chứng, hộ tịch. Thẩm quyền hành chính pháp lý thể hiện dưới hình thức các dịch vụ hành chính công nhằm giải quyết các quyền lợi và lợi ích hợp pháp của nhân dân, là hoạt động phục vụ công dân từ phía các cơ quan hành chính Nhà nước. Các hoạt 5 động này chỉ có hiệu lực khi được cơ quan nhà nước thực hiện nên không thể ủy quyền cho bất kỳ tổ chức nào ngoài cơ quan hành chính nhà nước. Vì vậy nhu cầu được cung ứng các dịch vụ hành chính công của người dân (khách hàng) không phải là nhu cầu của tự thân họ mà xuất phát từ các quy định có tính chất bắt buộc của nhà nước.
Nhà nước bắt buộc và khuyến khích mọi người thực hiện các quy định này nhằm đảm bảo trật tự và an toàn xã hội, thực hiện chức năng quản lý mọi mặt đời sống xã hội. Ở đặc điểm tiếp theo, mục đích của dịch vụ hành chính công là để phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước. Bản thân của dịch vụ hành chính công tuy không thuộc về chức năng quản lý nhà nước nhưng lại là hoạt động nhằm phục vụ cho chức năng quản lý nhà nước. Chính vì điều này nên trong các nghiên cứu khoa học pháp lý hiện nay đã đặt ra vấn đề xung quanh việc tách bạch giữa chức năng hành chính và chức năng quản lý trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước.
Đặc điểm thứ ba của dịch vụ hành chính công là những hoạt động không vụ lợi. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã quy định rất chặt chẽ về việc thu phí của dịch vụ hành chính công là chỉ thu lệ phí nộp ngân sách nhà nước. Nơi thực hiện dịch vụ không được trực tiếp hưởng lợi từ nguồn thu này. Đặc điểm cuối cùng, dịch vụ hành chính công có trách nhiệm và nghĩa vụ phục vụ công dân trên nguyên tắc công bằng, đảm bảo sự ổn định, bình đẳng và hiệu quả của hoạt động quản lý xã hội.
Mọi công dân và tổ chức đều có quyền bình đẳng trong việc tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ hành chính công với tư cách là đối tượng phục vụ của chính quyền nhà nước.3 Phân loại thủ tục hành chính Khái niệm về thủ tục hành chính có ý nghĩa bao hàm rộng lớn bao trùm lên nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền, vì vậy có nhiều cách để phân loại thủ tục hành chính: • Phân loại theo đối tượng quàn lý hành chính Nhà nước • Phân loại theo công việc cụ thể của các cơ quan Nhà nước • Phân loại theo chức năng cung cấp các dịch vụ trong quản lý Nhà nước • Phân loại dựa trên quan hệ công tác. 6 Việc phân loại thủ tục hành chính giúp cho các cơ quan nhà nước và người dân thực hiện một cách chính xác và nhanh hơn, góp phần đẩy nhanh quá trình hoàn thiện thủ tục đồng thời xây dựng được mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân.4 Nguyên tắc của thủ tục hành chính Tại điều 7 Nghị định 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính đã quy định Thủ tục hành chính phải bảo đảm các nguyên tắc sau: - Đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện. - Phù hợp với mục tiêu quản lý hành chính nhà nước. - Bảo đảm quyền bình đẳng của các đối tượng thực hiện thủ tục hành chính.
- Tiết kiệm thời gian và chi phí của cá nhân, tổ chức và cơ quan hành chính nhà nước. - Đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả của các quy định về thủ tục hành chính; thủ tục hành chính phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định trên cơ sở bảo đảm tính liên thông giữa các thủ tục hành chính liên quan, thực hiện phân công, phân cấp rõ ràng, minh bạch, hợp lý; dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của cơ quan nào, cơ quan đó phải có trách nhiệm hoàn chỉnh.2 Khái niệm cơ chế một cửa Cơ chế một cửa, một cửa liên thông ra đời đánh dấu bước ngoặc trong công cuộc cải cách hành chính của nhà nước trên tinh thần của Nghị quyết 38/CP ngày 4/5/1994 về việc “Cải cách thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức”. Vậy cơ chế một cửa có thể được hiểu là việc nhận và trả kết quả được thực hiện tại một bộ phận gọi là Bộ phận Một cửa. Nghị định 61/2018/NĐ-CP ngày 23/04/2018 đã miêu tả rất chi tiết và cụ thể về Bộ phận Một cửa như sau: “Bộ phận Một cửa là tên gọi chung của Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính hoặc Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết hoặc chuyển hồ sơ giải quyết, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính, theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân.” Bộ phận Một cửa ra đời đáp ứng được yêu cầu cần thiết mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, đơn giản hoá các khâu trong thủ tục hành chính, giúp giảm bớt thời gian 7 của các cá nhân, doanh nghiệp và ngay cả các công chức, viên chức thực hiện thủ tục hành chính.
Thước đo chất lượng và hiệu quả phục vụ của cán bộ công nhân viên chức và cơ quan nhà nước có thẩm quyền được đo lường bằng sự hài lòng của tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ.3 Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng 2.1 Sự hài lòng Trước sự phát triển của xã hội, nhu cầu về chất lượng sống của con người ngày càng được nâng lên, việc hài lòng với một sản phẩm hay một dịch vụ ngày càng được chú trọng tới. Ngày nay, người tiêu dùng không chỉ đánh giá một doanh nghiệp thông qua sản phẩm mà họ mang lại, mà còn đánh giá luôn đến các yếu tô bên ngoài của một doanh nghiệp đó bao gồm: tác phong phục vụ, giá trị lợi ích cho xã hội, cách chăm sóc khách hàng, giải quyết thắc mắc của khách hàng,….Ngay tại các cơ quan nhà nước cũng vậy, Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phát triển lấy nhân dân làm gốc rễ thì việc đáp ứng được nhu cầu và làm người dân cảm thấy hài lòng là điều thiết yếu và đáng được quan tâm. TTHC là một dạng dịch vụ luôn được sử dụng trong mọi lĩnh vực đời sống vì vậy mà việc người sử dụng dịch vụ có thỏa mãn với sự phục vụ của dịch vụ hành chính hay không luôn là điều mà Chính phủ cần phải chú trọng quan tâm và cải thiện. Ngày nay, trên nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự hài lòng và sự kỳ vọng là khác biệt.
Zeithaml và Bitner (2000) trong nghiên cứu của minh đã đưa ra khái niệm để cụ thể hóa về sự hài lòng của khách hàng là có thể đánh giá được và đo lường được, phát biểu như sau: “sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá của khách hàng thông qua một sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng được mong muốn và yêu cầu của họ”. Cùng chung quan điểm này là Oliver (1997) cho rằng sự hài lòng là phản ứng của khách hàng đối với việc họ được đáp ứng những mong muốn của họ. Theo Kotler (2001): “sự hài lòng của khách hàng là mức độ trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm/dịch vụ và những kỳ vọng của khách hàng.” 8 Mức độ hài lòng của khách hàng chính là sự so sánh giữa mong đợi trước và sau khi mua/sử dụng một sản phẩm hoặc dịch vụ. Trên cơ sở đó, Kotler xác định 3 mức độ của sự hài lòng: (1) Khách hàng cảm thấy không hài lòng với một sản phẩm, dịch vụ nếu kết quả mà họ nhận được ít hơn mong đợi; (2) Nếu khách hàng nhận được kết quả đúng như mong đợi của mình thì khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng; (3) Khách hàng cảm thấy rất hài lòng khi họ nhận được kết quả vượt trội so với mong đợi ban đầu.