Chương 1– Giới thiệu: trình bày động cơ nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn. Chương 2 – Tổng quan lý thuyết và thị trường dịch vụ thông tin di động: trình bày tổng quan về thị trường dịch vụ thông tin di động tại Việt Nam và tại khu vực tỉnh Bình Định, giới thiệu tổng quan về cơ sở lý thuyết của các khái niệm nghiên cứu trong mô hình. Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: trình bày thiết kế nghiên cứu, nghiên cứu định tính, đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu, và nghiên cứu định lượng chính thức. 4 Chương 4 - Kết quả nghiên cứu: tiến hành trình bày mô tả mẫu, đánh giá độ tin cậy, phân tích nhân tố khám phá và kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.
Chương 5 - Kết luận và hàm ý quản trị: trình bày và thảo luận tóm tắt các phát hiện; kết luận và gợi ý quản trị; xác định các đóng góp, hạn chế của nghiên cứu và đề nghị những hướng nghiên cứu trong tương lai. 5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG Vai trò và vị trí của ngành trong xã hội và nền kinh tế Việt Nam Việc lựa chọn kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ cơ chế bao cấp, khuyến khích nhiều thành phần tham gia đầu tư xây dựng, tăng năng lực sản xuất kinh doanh, cho phép cạnh tranh tạo động lực cho sự phát triển là một chủ trương đổi mới hết sức đúng đắn và có lợi của Đảng và Nhà nước ta, được các ngành các cấp và đa số nhân dân ủng hộ. Ngành Bưu chính Viễn thông cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó, từ năm 1995 đến nay đã lần lượt ra đời nhiều doanh nghiệp mới tham gia kinh doanh cạnh tranh dịch vụ Bưu chính, viễn thông. Về cơ bản, không còn độc quyền, trong đó phát triển nhanh nhất là dịch vụ Thông tin di động - đã phát triển thành một ngành kinh doanh, đóng góp lớn cho Bưu chính viễn thông Việt Nam nói riêng và xã hội nói chung.
Tính đến nay thì chỉ còn có 5 doanh nghiệp viễn thông về sim số là còn trụ vững trên thị trường. Chất lượng thông tin nhờ đó cũng được nâng cao một bước, đặc biệt là giá cước giảm nhanh, đã đạt được mức trung bình trên thế giới, người tiêu dùng được hưởng lợi và rất hoan nghênh. Việc các nhà kinh doanh thông tin di động liên tục đưa các công nghệ mới và các thiết bị kỹ thuật tiên tiến vào khai thác tại Việt Nam đã đưa Ngành Bưu chính viễn thông Việt Nam còn lạc hậu trở thành một ngành then chốt, mũi nhọn hàng đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Về mặt kinh tế, các doanh nghiệp kinh doanh Thông tin di động với doanh thu hàng ngàn tỷ đã tạo ra một ngành kinh doanh “nóng bỏng”, đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế đất nước và tạo ra một nguồn thu không nhỏ cho Ngân sách Nhà nước, tạo công ăn việc làm, đào tạo một lực lượng lớn lao động có trình độ, tri thức cho nền kinh tế tri thức nước nhà.
Theo số liệu thống kê của bộ Thông Tin và Truyền Thông, trong năm 2015 các doanh nghiệp viễn thông đạt doanh thu ước tính 6 trên 360.000 tỷ đồng, lợi nhuận ước đạt 56.000 tỷ đồng và nộp ngân sách nhà nước trên 46. Ngoài ra dịch vụ Thông tin di động Việt Nam còn tạo điều kiện để chúng ta xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc mạnh, đây là điều kiện tiền đề phát triển các ngành kinh tế khác và kêu gọi đầu tư nước ngoài để phát triển nền kinh tế Việt Nam. Điển hình như ngành tài chính. Ngành công nghiệp di động đã góp phần làm tăng số lượng khách hàng được tiếp cận với các dịch vụ tài chính qua di động.
Bằng chứng là ngày càng có nhiều người thực hiện các giao dịch tài chính trên chính thiết bị di động của mình. Về An ninh – Quốc phòng các mạng Thông tin Di động với vùng phủ sóng ngày càng rộng, kỹ thuật hiện đại đã vươn tới các vùng biên cương hải đảo đã cung cấp các dịch vụ ngày càng tốt, phục vụ cho công tác Bảo vệ an ninh quốc phòng và giữ gìn ổn định đất nước. Tuy nhiên việc phát triển nhanh ngành Thông tin di động cũng có những mặt trái của nó như: việc có quá nhiều nhà kinh doanh khai thác mạng thông tin di động ra đời trong một thời gian ngắn gây lãng phí cho nền kinh tế, tạo sự cạnh tranh không lành mạnh, việc bảo đảm an ninh thông tin liên lạc chưa chặt chẽ của các mạng di động gây khó khăn cho lực lượng An ninh, Công an trong quá trình tác nghiệp… Chính sách của Nhà nước đối với ngành thông tin di động Nhà nước ta đã tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong và ngoài nước, thuộc các ngành có thể tham gia vào thị trường Thông tin di động. Các doanh nghiệp mới được tạo điều kiện bằng chính sách khống chế giá các doanh nghiệp lớn cho đến khi họ đạt được mức 30% thị phần và một số chính sách khác như buộc Tập đoàn Bưu chính viễn thông hỗ trợ đường truyền tín hiệu, khuyến khích cho phép sử dụng kỹ thuật mới… Điều này giúp một số doanh nghiệp như Tổng công ty Viễn Thông Quân Đội có thể phát triển trong thị trường mới, tuy nhiên, việc hỗ trợ như trên cũng đã dẫn tới nhiều điều bất cập, có doanh nghiệp do gặp khó khăn trong kỹ thuật mới, không kết nối được với kỹ thuật đã phổ cập khác, phải qua thiết bị trung gian, không an toàn và thêm tốn kém, thiếu nguồn vốn đầu tư mở rộng vùng phủ sóng,khó đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.
Có doanh nghiệp mới lớn lên, 7 được ưu ái về đầu tư kinh doanh, có sự hỗ trợ lớn về tinh thần, vật chất, làm được việc tuyên truyền quảng cáo, khuyến mãi để phát triển nhanh, nhưng điều kiện cơ sở hạ tầng quá thiếu thốn, không đảm bảo. Các nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động (hầu hết là các đơn vị nhà nước) đầu tư trùng lắp gây lãng phí tiền của Nhà nước, Nhân dân. Đặc điểm của dịch vụ thông tin di dộng Dịch vụ thông tin di động là hiệu quả của quá trình truyền đưa tin tức dưới dạng tín hiệu sóng từ người gửi (trạm gốc) đến người nhận thông qua các thiết bị đầu cuối. Người sử dụng dịch vụ thông tin di động có thể gửi và nhận thông tin mọi lúc, mọi nơi tuỳ thuộc vào mức độ phủ sóng của nhà cung cấp dịch vụ.
Dịch vụ thông tin di động có những đặc điểm chính mà những đặc điểm này ảnh hưởng đến chiến lược phát triển. Thứ nhất, dịch vụ có tính hữu hình ít hơn nhiều so với các sản phẩm vật chất. Để gọi được thì chiếc điện thoại cần phải có sóng, nhưng tín hiệu sóng là vô hình so với tính hữu hình của chiếc điện thoại, là vật dụng dễ gây được ấn tượng cho khách hàng. Thứ hai, tính không tách rời của dịch vụ.
Ðó chính là quá trình sản xuất (cung cấp) và quá trình tiêu dùng diễn ra đồng thời. Ðây chính là một thách thức lớn đối với nhà cung cấp dịch vụ trong việc duy trì chất lượng dịch vụ cao và bảo đảm sự ổn định của chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Thứ ba, tính không đồng nhất. Người tiêu dùng khi mua một sản phẩm của nhà sản xuất sẽ luôn hy vọng rằng sản phẩm này sẽ giống với những sản phẩm khác cùng loại.
Tuy nhiên, trong cung cấp dịch vụ, yếu tố con người (nhân viên) giữ vai trò quan trọng. Các nhân viên (nhất là những nhân viên làm việc ở hệ thống phân phối) khác nhau về kiến thức, cả kỹ năng và thái độ cũng có sự khác biệt. Những yếu tố này ảnh hưởng đến sự đồng nhất của dịch vụ được cung cấp và ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của khách hàng. 8 Giới thiệu các nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động ở Việt Nam Hiện nay tại Việt Nam chỉ còn có 05 nhà kinh doanh cung cấp dịch vụ Thông tin di động trên địa bàn cả nước.1Công ty Thông tin Di động MobiFone (VMS – “VietNam Mobile Telecom Services Co) Công ty được thành lập 16/04/1993, trực thuộc Tập đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam trước đây, ngày 01/07/2014 đã tách khỏi tập đoàn và trực thuộc Bộ Thông Tin Truyền Thông.
Từ ngày 01/12/2014 được nâng cấp thành Tổng Công ty Viễn Thông MobiFone theo quyết định 1789/BTTTT của Bộ trưởng Thông tin và truyền thông. Tổng Công ty Viễn Thông MobiFone là đơn vị dẫn đầu ngành về việc cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng cho khách hàng (hơn 50 dịch vụ).2Công ty Dịch vụ Viễn thông Vinaphone Là công ty thành viên hạch toán phụ thuộc trực thuộc Tập Đoàn Bưu Chính Viễn Thông VN - VNPT (trước là Tổng Cty Bưu Chính Viễn Thông VN), được thành lập vào ngày 11/12/1997. Công ty cũng đang kinh doanh khai thác mạng điện thoại kỹ thuật GSM, sử dụng các đầu số 091, 094, 0123, 0125, 0127, 0129, tên dịch vụ mạng là VinaPhone.3Tập đoàn Viễn thông Quân Đội Chính thức gia nhập thị trường viễn thông từ ngày 15/10/2000, cho đến nay Tổng Công ty Viễn thông Viettel (Viettel Telecom) thuộc Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel đã trở thành doanh nghiệp viễn thông hàng đầu Việt Nam. Nhà cung cấp dịch vụ này đang khai thác mạng di động Viettel sử dụng đầu số 097, 098, 0163(01636, 01637, 01638 và 01639), 0164, 0165, 0166, 0167, 0168, 0169.
Ngày 15/10/2004, mạng di động 098 chính thức đi vào hoạt động.4Công ty Cổ phần Viễn thông Hà Nội – Hà Nội Telecom Tên thương hiệu mạng di động: VietNamMobile, được phép khai thác, cung cấp đầu số: 092, 0188, 0186 sử dụng mạng công nghệ kỹ thuật GSM. Đây là dự án Hợp đồng Hợp tác kinh doanh BCC giữa Côngty Cổ phần Viễn thông Hà Nội và 9 Công ty Hutchison Telecommunications (Trung Quốc), có tổng vốn đầu tư là 655,9 triệu USD với thời hạn 15 năm.5 Mạng điện thoại GMobile Công ty được thành lập ngày 8/7/2008 trên cơ sở thỏa thuận hợp tác giữa Tổng công ty Viễn thông Di động Toàn cầu và Tập đoàn VimpelCom- Một trong những Tập đoàn Viễn thông hàng đầu ở Đông Âu và Trung Á. Tên thương hiệu mạng di động Beeline VN. Hiện nay đã đổi tên là Gmobile và được thành lập vào ngày 17 tháng 09 năm 2012 là kế thừa của Beeline Việt Nam được phép khai thác, cung cấp đầu số: 0199, 099, sử dụng mạng công nghệ kỹ thuật GSM.