chương I Chúng tôi muốn làm rõ ý muố n của mình trong chương một để ta có thể hình dung một cách sơ bộ về nghiêng cứu này. Nghiên cứu sẽ đạt được những mục tiêu mà nó đề ra cũng như trả lời được những nghi vấn mà chúng tôi đi đến nghiên cứu này bằng cách sử dụng mô hình hồ i quy OLS. CHƯƠNG II: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH Ở chương này chúng tôi trình bày các lý thuyết có liên quan, gồm các khái niệm, các lý thuyết kinh t ế có liên quan. Cụ thể là vốn nhân lực, vốn vật chất, vốn xã hội, các điều kiện tự nhiên, sản lượng, dựa trên các nghiêng cứu đi trước, xây dựng khung phân tích.1 Cà phê Cà phê là loại thức uống qua qua trình chế biến, chắt lọc từ hạt cà phê rang, lấ y từ quả cây cà phê.
Khởi nguồn ở các quốc gia châu Phi, nếu Ethiopia đượ c biết đến là quê hương của loại cây này thì Yemen mới là quốc gia đưa loại cây này ra vớ i thế giới với hình thức một thứ nước uống mang hương vị đặc trưng. Từ đây loại thức uống này đi đế n các quốc gia xung quanh Ấn Độ Dương và men theo Con Đường Tơ Lụa đi đến khắp nơi trên thế giới, và phần còn lại là lị ch sử. Nó được ưa chuộng bởi vì mùi vị và tác dụng của nó. Cà phê có tính acid và có thể gây kích thích trung ương thần kinh ngườ i sử dụng do có cafein.
Hạt cà phê chia thành hai loại chính là Robusta với cái tên của mình thì nó đượ c hiểu như là loại mạnh, kích thích do hàm lượng cafein cao, có vị từ trung tính đế n gắt; Arabica được biết đến với vị hơi chua và có hương thơm (aroma) đặc trưng do sự khác biệt về giống cà phê và cũng một phần là Arabica có quá trình lên men. Theo chiều dài lịch sử thức uống này phát triển về sự đa dạng khi t ừ một loại có thể pha ra nhiều thức nước uống khác nhau và mang hương vị đặc trưng riêng, như espresso, capuchino của Ý, bạc sỉu của người Hoa hay chính xác hơn là người Quảng Đông, loại cà phê truyền thống (classic). Cà phê không chỉ được ưa thích bởi mùi vị thơm ngon, đậm đà mà còn vì nó kích thích trung ương thần kinh đem lạ i sự tĩnh táo và đặ c biệt hơn công dụng ít ai biết chính là an thần. Nếu đi ngủ 15 sau khi dùng một ít cà phê thì giấ c ngủ sẽ sâu hơn, một cách dễ hiểu là ngủ ngon hơn, bơi máu trong não sẽ được lưu thông tốt hơn, nhưng nế u chần chứ không vào giấc thì cafein sẽ bắt đầu tác dụng, tất nhiên sẽ rất khó để ngủ trở lại.
Ngoài ra cũng một vài tác dụng xấu, chính là tăng đột ngột lượng insulin trong máu, mất căn bằng cơ thể và ảnh hưởng đến tuyến tụy tất nhiên ai bị viêm tụy thì thứ c uống này phải nằm trong “black list”. Một hiểu lầm trớ trêu khác là cà phê được coi là thứ gây nghiện và nguyên nhân của sự “bất lực” ở cánh mày râu, nhưng một nghiêng cứu của Amantea (1923) chỉ ra rằng lượng cafein này không những làm tăng hung phấn mà còn tăng sô lượng tinh trùng. Nhưng bên cạnh đó, một nghịch lý là thích hương vị cà phê nhưng lại không thích chất cafein, thì giờ đây họ có thể thưởng thức loại cà phê không có cafein, hay còn đượ c gọi là khử cafein.2 Sản lượng Theo định nghĩa của Nguyễn Văn Ngọc trong Từ điển Kinh tế học, Đại học kinh tế quốc dân. Thì sản lượng được biết đến là “hàng hóa dịch vụ được sản xuất bằng cách kết hợp các yếu tố đầu vào khác, tất cả tổng hợp lại và thành một sản phẩm đầu ra”.
Sản lượng còn được biết đến là công cụ cần thiết để tính toán các tiêu chí kinh tế tài chính khác của một quốc gia, một doanh nghi ệp, đặc biệt là các phân tích trong ngắn hạn. Và trong quá trình xem xét sản lượng bởi các yếu tố đầu vào khác, nhà quản trị thường dựa vào các tiêu chí đầu vào khác tính toán xem các phương thứ c sản xuất để có thể tối ưu hóa sản lượng đầ u ra hoặc xem xét tối ưu hóa lợi nhuận, điều đó tùy thuộc vào chiến thuật kinh doanh c ủa doanh nghiệp, công ty ở thời điểm đó. Bên cạnh đó, còn một số thuật ngữ liên quan như sản lượng cận biên (Marginal Product) được biết đến là là lượng sản phẩm đầu ra thay đổi khi ta thêm hoặc bớt 1 yếu đầu vào nào. Độ co dãn sản lượng chỉ ra rằng lượng phần trăm thay đổi của sản lượng khi một yếu tố đầu vào bất kì thay đổi một 1%.
Sản lượng tăng theo quy mô, tức là sản lượ ng sẽ tăng nếu ta thay tăng thêm các yếu tố đầu vào; sản lượng không đổi theo quy mô, tứ c lượng đầu ra s ẽ không đổi khi ta tăng thêm 1 yếu tố đầu vào bất kì; sản lượng giảm theo quy mô, là lượng đầ u ra sẽ giảm nếu ta tiếp tục tăng thêm một yếu tố đầu vào. Ở đề tài nghiên cứu này, việc làm rõ khái niệ m sản lượng rất quan tr ọng. Từ đây ta có thể đi đến khái niệ m sản lượng cà phê là lượng đầu ra được thu ho ạch trên cây hay còn gọi là hạt cà phê thô chưa qua sơ chế. Sản lượng cà phê ở đề tài này tôi đo lườ ng bằng đơn vị tấn.
Ta cần làm rõ trước khi đi sâu vào các kết quả phân tích, từ đó việc truyền đạt sẽ dễ hiểu hơn. Và ở đây, các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng không còn là yếu tố đầu vào nữa mà còn là yếu tố con người, yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội.3 Vốn nhân lực Vốn nhân lực hay còn gọi là vốn con người, là những gì thuộ c về con người, do quá trình học tập và làm việc tích lũy mà có. Sâu xa hơn, chính là nhữ ng thuộc tính vốn -7- có, giới tính, tuổi tác, tình trạng hôn nhân, tình trạ ng sức khỏe. Nghe có vẻ vô lí tại sao những thứ như vậ y lại tác động đến sản lượng? Bởi vì những yếu tố kết hợp lại ở một người, hình thành nên suy nghĩ, lối tư duy giả i quyết vấn đề, một cách dễ hiểu là một vấn đề phát sinh trong quá trình canh tác thì người đàn ông 37 tuổi đã kết hôn, sẽ giải quyết khác với một người phụ nữ 27 tuổi chưa kết hôn.
Ở đây tác giả không ngầm ý điều gì, chỉ đơn thuần là ví dụ, và cách xử lí khác nhau, khả năng cao dẫn đến những kết quả khác nhau, ở đây chính là thành phẩm lao động nông nghiệ p – sản lượng canh tác. Các nhà kinh tế học ngay thời hiện đại đã có những nhìn nhận đúng mực hơn về đánh giá tầm quan trọng của vốn con người trong sản xuất. Họ cho rằng quá trình giáo dục hình thành tư duy, tích lũy kiế n thức là hết sức quan trọng cho năng suất, cũng như thành quả lao động. Theo Từ điển kinh t ế hiện đại Macmillan 1992, cho rằng cơ sở lý thuyết vốn con người là sự đầu tư vào con người để nâng cao năng suất lao động của họ.
Sự đầu từ được nhắc đế ở đây chính là sự đầu tư trong giáo dục, từ sự đào tạo trong quá trình làm việc, điều này tạo một nền móng vững chắc để phát triển khả năng vốn có tồn tại trong m ỗi người, cũng sự sáng tạo góp phần đưa công nghệ sản xuất lên một nấc thang phát triển, tiết kiệm nguồn lực cho bản thân, tổ chức, doanh nghiệp và xã hội. Một cách tóm tắt thì vố n con người đóng một vai trò cực kì quan trọng trong quá trình lao độ ng, sản xuất. Đó là những gì đượ c học, được tiếp thu và xử lí qua quá trình lao động, cùng với đó có sự kết hợp của các tư liệu sản xuất khác để tạo thành quả lao động cuối cùng. Ngoài ra đó còn là sự tâm huyết, sáng tạo để hướng tới mục tiêu phát triể n của mỗi ngành nghề, và con ngườ i.
Trong một số nghiêng cứu thực nghiệm cũng đã chỉ ra rằng tương quan dương củ a vốn con người đế n thu nhập. Mà ở đây có thu nhập được hiểu gần như có mối quan hệ chặt chẽ với sản lượng, vì trong hầ u hết các trường hợp thì sản lượ ng lớn, sẽ đem lại nguồn thu nh ập lớn. Nên trong nghiêng cứu này tác giả ngầm hiểu rằng những gì ảnh hưởng đến thu nhập không ít thì nhiề u sẽ ảnh hưởng tương tự đến sản lượng. Và trong nghiên cứu của Đinh Phi Hồ (2003) chỉ ra rằng thu nh ập có tương quan thuận chiều với mức độ kiến thức, nói cách khác là giáo dục.
Bùi Quang Bình (2008) cũng chỉ ra mối -8- tương quan dương giữ a vốn con người như họ c vấn, kinh nghiệm, giới tính đên thu nhậ p từ cà phê của bà con nông dân Tây Nguyên 2.4 Vốn vật chất Vốn vật chất được hiểu rằng là các trang thiết bị máy móc, cơ sở hạ tầng. Những công cụ cụ lao động để tăng năng suất, đáp ứng các như cầu của công việc. Theo dòng chảy lịch sử đã chỉ ra rằng, từ thời công xã nguyên thủy các cộng cụ bằng đá thay thế sức người và đem lạ i một hiểu quả đáng kể nếu xét theo thời điểm đó. Để thặng dư sản xuất bắt đầu bị chiếm giữ bởi một số người gọi là lãnh chúa thì tư liệ u sản xuất có sự chuyển biến mạnh mẽ từ đá sang kim loại.
Rồi các cuộc cách mạng công nghiệ p nổ ra như động cơ hơi nước, năng lượng điệ n, viễn thông, và gần đây nhất là không gian mạ ng thực tế ảo ranh giới giữa các quốc gia dần được xóa nhòa trong việ c tiếp thu kiến thức và công nghệ phát triển. Lịch sử chứng minh rằng con người dần văn minh hơn, khi trong tay họ là các công cụ hiện đại để tiết kiệm sức người, sức của mà vẫn đạt được thậm chí là hơn sản lượng trước khi sử dụng công nghệ mới. Theo Karl Marx thì đó là một quá trình phát triể n tự nhiên khi thặng dư sản xuất bị chiếm đoạt bởi tư liệu sản xuất. Có thể nói công cụ sản xuất đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong lao độ ng sản xuất, nó ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng.
Một vấn đề vô cùng hiển nhiên, và ta không cần phải cần một nghiên cứu thực nghiệm tính đúng đắn của nó.