chương 1 trình bày các mục giới thiệu về nghiên cứu như lý do chọn ĐH Kinh tế Hcm đề tài; mục tiêu; câu hỏi; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài; bố cục của nghiên cứu. Đây là cơ sở để đinh hướng thực hiện các bước nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO THẺ TÍN DỤNG 2.1 Lý thuyết về rủi ro 2.1 Khái niệm rủi ro Bất cứ hoạt động nào cũng chứa đựng trong đó những rủi ro tiềm ẩn. Rủi ro là một khái niệm có nhiều quan điểm định nghĩa khác nhau: Theo quan niệm truyền thống: rủi ro là những tổn thất có thể xảy ra trong tương lai, có thể phát sinh từ một số hoạt động ở hiện tại và thường được chứa đựng bên trong hoặc đi cùng với một sự kiện không mong muốn xảy ra.
Theo quan điểm hiện đại: ISO/IEC Guide 73 (2002) định nghĩa rủi ro là sự kết hợp khả năng xảy ra của một sự kiện và hệ quả của nó. Trong tất cả các hoạt động luôn tiềm ẩn khả năng xảy ra các sự kiện và hệ quả. Hệ quả của rủi ro tạo thành các cơ hội có lợi (tích cực) hoặc đe dọa thành công (tiêu cực) của hoạt động. Trong lĩnh vực ĐH Kinh tế Hcm hoạt động đặt ra mức độ an toàn thì nhìn chung hệ quả do rủi ro tạo ra chỉ có tính bất lợi, vì vậy quản lý rủi ro trong lĩnh vực này thường tập trung vào việc phòng chống và giảm nhẹ tác hại mà rủi ro có thể gây ra.
Từ quan điểm nêu trên, có thể khái niệm rủi ro như sau: Rủi ro là một sự kiện bình thường không thể tránh được trong cuộc sống hàng ngày. Rủi ro là một sự kiện có thể xảy ra làm ảnh hưởng tiêu cực đến mục tiêu hoạt động của tổ chức, cá nhân. Hiểu biết về rủi ro và kiểm soát rủi ro là một phần quan trọng trong cuộc sống nhằm tránh tổn thất, đạt được lợi ích và tăng thu nhập.2 Lý thuyết về rủi ro Theo Nguyễn Minh Kiều (2007), sự kiện không chắc chắn là sự kiện có thể nhiều kết cục trong đó có thể tính toán được xác suất xảy ra của mỗi kết cục. Trong các tình huống may rủi (hay mạo hiểm), chúng ta có thể tính được xác suất xảy ra của các kết cục.
Và ngược lại, trong tình huống bất định, chúng ta không thể tính được xác suất này. Có hai hai loại xác suất: xác suất khách quan và xác suất chủ quan. Xác suất khách quan là xác suất trong đó chúng ta có thể sử dụng các phương pháp xác suất và thống kê để tính toán xác suất. Và ngược lại xác suất chủ quan là xác suất trong đó chúng ta không thể sử dụng các phương pháp xác suất và thống kê để tính toán xác suất.
Đối với xác suất chủ quan người ra quyết định phải phán đoán, và các phán đoán chủ quan này phụ thuộc vào kinh nghiệm, tri thức, thông tin, khả năng phân tích và xử lý thông tin v. của người ra ĐH Kinh tế Hcm quyết định. Và kết quả dẫn đến là xác suất chủ quan thường khác nhau. Bản tính của con người là thường ưa thích những gì chắc chắn và đồng thời luôn muốn né tránh những điều may rủi và bất trắc.
Tuy nhiên, trong đời sống hàng ngày, chúng ta đối diện với rất nhiều tình huống ra quyết định trong đó chúng ta không biết chắc kết cục của các tình huống ấy là như thế nào. Để ra những quyết định như vậy, hiển nhiên một yêu cầu đặt ra là đo lường mức độ may rủi của các lựa chọn, và trên cơ sở đó chọn phương án có độ may rủi thấp nhất (với các điều kiện khác như nhau). Một trong những thước đo đo lường sự hấp dẫn của trò chơi may rủi là giá trị kỳ vọng của phần thu nhập tăng thêm so với khi không tham gia trò chơi, hay một cuộc kinh doanh, hay lợi ích tăng thêm khi thoả dụng một vấn đề mong muốn. Trong lý thuyết xác suất và thống kê, giá trị trung bình này được gọi là giá trị kỳ vọng và được định nghĩa như sau: - Giá trị kỳ vọng của một tình huống là bình quân gia quyền giá trị của các kết 7 cục có thể xảy ra, trong đó trọng số (hay quyền số) là xác suất xảy ra của mỗi kết cục.
Công thức tính giá trị kỳ vọng: X = p1X1+p2X2+p3X3+….+pn Xn Trong đó X1, X2, X3, …, Xn là các giá trị có thể (kết cục) của đại lượng ngẫu nhiên X, và p1, p2, p3, …, pn là các xác suất tương ứng Trong cuộc sống con người thường phải đối diện với những tình huống không chắc chắn (rủi ro) và trong nền kinh tế cũng như các hoạt động kinh tế cũng gắn liền với quy luật khách quan vốn có của nó, tồn tại giữa 2 vấn đề có thể xảy ra, không xảy ra, hoặc chắc chắn và không chắc chắn, rủi ro hay không rủi ro.2 Rủi ro thẻ tín dụng 2.1 Khái niệm rủi ro thẻ tín dụng Thẻ tín dụng là một loại công cụ tín dụng phổ biến. Nó được phát hành thông ĐH Kinh tế Hcm qua việc cung cấp thẻ tín dụng (thường là các ngân hàng thương mại) theo đánh giá tín dụng và tình hình tài chính của chủ thẻ tín dụng. Sử dụng thẻ tín dụng, chủ sở hữu không cần phải trả tiền mặt khi họ tiêu dùng, và phải thanh toán hóa đơn vào ngày ngân hàng gửi bản sao kê khai hóa đơn. Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn, chỉ có những tình trạng không chắc chắn có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro (Nguyễn Minh Kiều, 2007).
Trong thuật ngữ tài chính, rủi ro là khả năng mất mát tài chính của ngân hàng. Rủi ro gắn liền với bất cứ hoạt động tài chính nào và cũng như bản thân các giao dịch tài chính đó cần được quản lý một cách đúng mực. Các ngân hàng có thể phái đối mặt với các tốn thất lớn nếu không quản lý chặt chẽ các rủi ro. Rủi ro thẻ tín dụng là các tổn thất về vật chất hoặc phi vật chất có liên quan tới hoạt động kinh doanh thẻ, bao gồm hoạt động phát hành và hoạt động thanh toán thẻ.
Đối tượng chịu rủi ro là ngân hàng, chủ thẻ hoặc Đơn vị chấp nhận thẻ. Vì vậy mỗi 8 ngân hàng cần phải quan tâm đặc biệt đến hoạt động quản lý rủi ro nói chung và hoạt động quản lý rủi ro kinh doanh thẻ tín dụng nói riêng.2 Nguồn rủi ro thẻ tín dụng Rủi ro từ chủ thẻ tín dụng Rủi ro từ chủ thẻ tín dụng có tác hại rất lớn gây ra thiệt hại cho ngân hàng. Rủi ro này thường xảy ra khi: Chủ thẻ tín dụng không đủ khả năng thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản chi tiêu bằng thẻ tín dụng. Một khi chủ thẻ tín dụng đến hạn mà không thanh toán khoản nợ trong chu kỳ tín dụng, khoản nợ này sẽ được ngân hàng ghi nhận là nợ quả hạn và được tính chung vào khoản nợ quả hạn của ngân hàng.
Hoặc xuất phát từ các hành vi làm giả hồ sơ để mở thẻ tín dụng, sử dụng thẻ đã báo mất hoặc bị đánh cắp, sử dụng thẻ đã báo không nhận được thẻ, không công ĐH Kinh tế Hcm nhận giao dịch đã thực hiện. Rủi ro từ đơn vị chấp nhận thẻ Rủi ro thẻ tín dụng xuất phát từ đơn vị chấp nhận thẻ như: Các hành vi làm giả hồ sơ để ký hợp đồng làm đơn vị chấp nhận thẻ với ngân hàng (fraudulent merchant) Sửa số tiền giao dịch lớn hơn so với giao dịch thực tế (card present) Đánh cắp thông tin của chủ thẻ để bán (merchant collusion). Rủi ro từ hành vi gian lận từ bên ngoài Khi công nghệ thông tin ngày càng phát triển thì các các rủi ro xuất phát từ các hành vi gian lận từ bên ngoài của tội phạm công nghệ ngày càng gia tăng đây là một trở ngại rất lớn mà các NHTM khó có thể giải quyết triệt để. Cụ thể các hành vi gian lận từ lận bên ngoài như: 9 Làm thẻ giả (counterfeit) Sửa thông tin chủ thẻ (account takeover) Sử dụng thiết bị quét cắp thông tin thẻ (skimming) Đánh cắp thông tin từ các giao dịch không xuất trình thẻ (card not present) Sử dụng thông tin của chủ thẻ để thực hiện giao dịch (card not present),.
Rủi ro từ ngân hàng Chính sách kinh doanh thẻ tín dụng không hợp lý, chỉ chú trọng mở rộng tổng dư nợ thẻ tín dụng để tăng doanh thu từ lãi vay mà ít quan tâm đến việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ đem lại nguồn thu không nhỏ về phí sử dụng cho ngân hàng. Chính sách phí, lãi áp dụng với các sản phẩm thẻ tín dụng như con dao hai lưỡi trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng. Một mặt, khách hàng được khuyến khích đăng ký mở thẻ tín dụng và sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán hóa đơn hàng hóa, dịch ĐH Kinh tế Hcm vụ hay ứng tiền mặt tại máy ATM để chi tiêu cho nhu cầu cá nhân. Mặt khác, ngân hàng luôn trong tình trạng báo động nợ xấu gia tăng do một bộ phận khách hàng sử dụng thẻ tín dụng nhưng không có khả năng thanh toán khi đến hạn.
Cán bộ kinh doanh thẻ không tuân thủ chính sách tín dụng, không chấp hành đúng quy trình phát hành thẻ tín dụng, không thẩm định đầy đủ và chính xác hồ sơ đăng ký mở tín dụng của khách hàng, cấp và thay đổi hạn mức tín dụng sai quy định,. gây tổn thất cho ngân hàng khi khách hàng sử dụng hết hạn mức tín dụng của thẻ nhưng không có khả năng thanh toán nợ.3 Các nghiên cứu trước Nghiên cứu của Black và Morgan (1998) Trong nghiên cứu của Black và Morgan (1998) về “Rủi ro và sự phổ biến các loại thẻ tín dụng”, tác giả đã chỉ ra rằng nợ xấu và vỡ nợ liên quan tới các yếu tố nghề 10 nghiệp, tình trạng hôn nhân, thâm niên công tác, thu nhập và tài sản đảm bảo của người sử dụng thẻ. Nghiên cứu của Norvilitis, Osberg và Roehling (2006) Theo các nghiên cứu của Norvilitis, Osberg và Roehling (2006) về “Các nhân tố về nhân cách, thái độ tiền bạc, kiến thức tài chính và nợ thẻ tín dụng trong sinh viên”. Nghiên cứu này tìm hiểu các nhân tố là nguyên nhân và ảnh hưởng đến rủi ro xuất phát từ nợ thẻ tín dụng trong 448 sinh viên tại năm trường đại học.