chương I của thông tư 02/2013/TT-NHNN do Thống đốc NHNN Việt Nam ban hành ngày 21 tháng 1 năm 2013, quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: “ Nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. ” Qua những khái niệm trên, ta có thể hiểu nợ xấu có nghĩa là các khoản vốn mà ngân hàng cho khách hàng vay mà không thể thu hồi lại được vì lý do người vay không có khả năng trả nợ. Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu 2. Nguyên nhân từ ngân hàng Chất lượng thẩm định kém Đây là bước quan trọng trong quy trình cho vay.
Công việc này cần khá nhiều lượng thông tin và đánh giá tương đối chính xác. Hiện nay, phần lớn các ngân hàng thẩm định dựa vào cảm tính chủ quan của nhân viên tín dụng hoặc nhân viên thẩm định, dựa vào các thông tin được công bố qua báo chí, internet và do chính khách hàng cung cấp. Chỉ cần một thông tin không chính xác, có thể dẫn đến tình trạng nợ xấu rất cao. Một số dự án chỉ được thẩm định dựa trên các giấy tờ, tài liệu do khách hàng cung cấp và chuẩn bị sẵn.
Kiểm tra, giám sát sau vay thiếu chặt chẽ Nếu như việc thẩm định khách hàng trước khi ra quyết định cho vay quan trọng thì khâu kiểm tra, giám sát sau vay cũng quan trọng không kém. Nếu như khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích cam kết sẽ hạn chế được nợ xấu phát sinh. Tuy nhiên, khách hàng sau khi vay vốn có khả năng sử dụng vốn vay không đúng mục đích rất cao, đặc biệt là các trường hợp vay tín chấp. Tùy thuộc vào từng 123doc 10 khoản vay, loại hình cấp tín dụng và mô hình tổ chức mà các ngân hàng quy định tuần suất kiểm tra phù hợp, thông thường kiểm tra chứng từ trong vòng 30 ngày và kiểm tra thực tế tối thiếu 3tháng/lần sau vay.
Nhưng thực tế, không phải trường hợp nào cũng được kiểm tra theo đúng quy định, đôi khi 12 tháng mới kiểm tra một lần hoặc kiểm tra mang tính chất chỉ để hợp thức hóa. Sự thiếu chặt chẽ này đã làm cho tình hình rủi ro tín dụng tăng lên và đặc biệt tình hình nợ xấu tăng cao. Sự quản lý yếu kém, chính sách tín dụng không phù hợp hoặc không được thực hiện nghiêm túc, sai quy định Trong quá trình tái cơ cấu và hội nhập hiện nay, các ngân hàng cần xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro hiệu quả để đảm bảo an toàn cho hoạt động hệ thống nói chung và hoạt động cấp tín dụng nói riêng. Sự yếu kém trong việc quản trị rủi ro đã tiềm ẩn những khoản nợ xấu.
Tùy vào mục tiêu mà các ngân hàng xây dựng chính sách tín dụng phù hợp. Thực tế, trong thời gian qua những khách hàng không đủ điều kiện không được chấp nhận cho vay ở ngân hàng lớn thì khi nộp qua ngân hàng nhỏ lại được cho vay. Một số ngân hàng không tuân thủ về điều kiện cho vay, vẫn cho vay đối với các đối tượng thuộc diện hạn chế cấp tín dụng : thành viên hội đồng quản trị, các cổ đông lớn,. Trong môi trường cạnh tranh gay gắt hiện nay, các ngân hàng phải thường xuyên thay đổi chính sách tính dụng và nếu không cẩn trọng sẽ dẫn đến rủi ro.
Năng lực điều hành của ban lãnh đạo yếu kém trong việc xây dựng và thực thi chiến lược quản lý nợ xấu Nhà lãnh đạo phải có khả năng phân tích, phán đoán và đưa ra quyết định chính xác, chiến lược phù hợp. Nhà lãnh đạo phải dẫn dắt các cá nhân, tổ chức hướng đến mục tiêu chung. Thực tế, không ít các nhà lãnh đạo lại thiếu năng lực, trình độ, đôi khi lại vì tư lợi cá nhân mà lơ là, điều hành lỏng lẻo. Đạo đức nghề nghiệp bị vi phạm Ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh khá đặc thù dựa trên sự tin cậy và tín nhiệm.
Do đó, đạo đức nghề nghiệp được đặt lên hàng đầu và ở góc độ nào đó mang tính bắt buột. Thời gian qua, xảy ra hàng loạt những vụ án lớn do nhân viên, 123doc 11 cán bộ cao cấp của ngân hàng cấu kết làm giả hồ sơ, lừa đảo, làm sai quy định,. gây thất thoát con số lên đến hàng ngàn tỷ đồng và góp phần làm nợ xấu tăng lên như: đại án NHTMCP Xây Dựng – Phạm Công Danh và đồng phạm, đại án ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn – Dương Thanh Cường và đồng phạm, đại án NHTMCP Công thương Việt Nam – Huỳnh Thị Huyền Như,. Hệ thống xếp hạn tín dụng nội bộ khách hàng chưa được xây dụng phù hợp Xếp hạn tín dụng nội bộ là một trong những công cụ hiệu quả cho ngân hàng trong công tác quản trị rủi ro.
Tuy nhiên, các ngân hàng chưa thực sự xây dựng được thước đo lượng hóa các rủi ro, và đáp ứng các yêu cầu theo chuẩn Basel II. Ngoài ra, còn có một số nguyên nhân khác: nguồn cung cấp thông tin hạn chế, nới lỏng điều kiện phê duyệt tín dụng, thiếu chiến lược kinh doanh, các ngân hàng hợp tác còn lỏng lẻo, thiếu chia xẻ thông tin, chạy theo thành tích số lượng, chỉ tiêu,. Nguyên nhân từ khách hàng Sử dụng vốn vay sai mục đích Tuy đã được quy định rõ ràng nhưng thực tế đây lại là trường hợp gian lận xảy ra khá phổ biến. Việc kiểm soát sau vay của ngân hàng khá lỏng lẻo đã góp phần tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích.
Khách hàng đã dùng vốn vay để đầu tư những ngành nghề không liên quan đến hoạt động chính dẫn đến phân tán nguồn tài chính, thiếu hụt vốn. Thiếu thiện chí trả nợ Một số khách hàng có khả năng tài chính tốt nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không giao TSĐB cho ngân hàng xử lý, nhầm chiếm đoạt vốn ngân hàng. Thậm chí một số khách hàng lợi dụng tâm lý của ngân hàng không muốn mất hình ảnh trước khách hàng, lợi dụng dư luận mà cố tình trì hoãn không thanh toán các khoản vay vốn cho ngân hàng. Gian lận về số liệu, chứng từ 123doc 12 Khách hàng cung cấp những số liệu, chứng từ về tình hình tài chính, thu nhập, TSĐB, báo cáo tài chính,.
không minh bạch, độ chính xác đã bị thay đổi để phù hợp với điều kiện vay, để được ngân hàng đánh giá tốt khi đi vay. Tình hình tài chính không minh bạch Khách hàng ngày càng tinh vi và hoàn toàn có thể gian lận trong việc lập các báo cáo tài chính, bảng thu nhập,. thay đổi số liệu, thông tin về tình hình tài chính để có thể vay được vốn. Phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay Một số doanh nghiệp có tỷ lệ vốn vay lên đến 90% tổng tài sản, dẫn đến khi có sự biến động mạnh về lãi vay ngoài dự kiến, khiến cho DN không có nguồn tiền để trả nợ.
Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác từu khách hàng: phương án kinh doanh không khả thi, năng lực quản lý của nhà lãnh đạo yếu kém,. Nguyên nhân khách quan do môi trường kinh doanh Biến động môi trường kinh doanh Biến động môi trường kinh doanh quá nhanh và không dự đoán được thị trường thế giới ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các thành phần trong nền kinh tế. Suy thoái kinh tế Suy thoái kinh tế có sức lan tỏa toàn cầu, gây ra những hệ lụy đến toàn bộ nền kinh tế của các quốc gia, và ngành ngân hàng là lĩnh vực bị tác động khá lớn trong việc thu nợ từ những khách hàng vay trong thời kỳ suy thoái. Cơ chế chính sách của Nhà nước Chính sách Nhà nước đóng vai trò to lớn trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế.
Những gói kích thích kinh tế, hỗ trợ,.giúp cho các ngân hàng nói riêng và cả nền kinh tết nói chung hoạt động hiệu quả hơn. Quá trình tự do và hội nhập 123doc 13 Quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế làm nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các khách hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Các yếu tố khác như: thất nghiệp, hệ thống pháp luật, chức năng kinh doanh độc lập của NHTM chưa được đảm bảo, thiên tai, dịch họa,. Hậu quả của nợ xấu 2.
Hậu quả của nợ xấu đối với ngân hàng - Nợ xấu làm giảm lợi nhuận của ngân hàng: vốn của ngân hàng tồn đọng trong các khoản nợ xấu. Khi nợ xấu tăng, thu nhập của ngân hàng giảm do không thu hồi được nợ và phát sinh thêm các khoản chi phí khác như: trả lãi tiền gửi cho khoản huy động trong khi không thu được vốn và lãi cho vay, chi phí trích lập dự phòng, chi phí quản lý, xử lý nợ xấu, chi phí xử lý TSĐB, chi phí kiện tụng,. - Nợ xấu làm ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản: do ngân hàng không thu được vốn đã cấp và lãi cho vay nhưng lại phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này dẫn đến việc làm ngân hàng mất khả năng thanh toán tạm thời. - Nợ xấu làm giảm uy tín của ngân hàng: nguồn tiền để ngân hàng cho vay đa số là huy động từ tổ chức, cá nhân khác.
Khi nợ xấu tăng cao làm giảm khả năng toán, không đủ tiền để trả cho tiền gửi và lãi huy động khi đến hạn, gây mất lòng tin đối với người gửi tiền, khó khăn trong việc giữ mối quan hệ với khách hàng cũ và thu hút khách hàng mới. Khi lòng tin vào khả năng tài chính của ngân hàng bị suy giảm sẽ dẫn đến khả năng huy động vốn của ngân hàng cũng giảm theo. - Nợ xấu gây nên nguy cơ phá sản cho ngân hàng: tình hình nợ xấu nghiêm trọng sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy: giảm khả năng huy động vốn, mất thanh khoản, giá trị tài sản giảm, lợi nhuận giảm, rút tiền hàng loạt,. đưa ngân hàng đến bờ vực phá sản rất cao hoặc có những trường hợp bị mua lại với giá 0 đồng như trường 123doc 14 hợp của: NHTMCP xây dựng Việt Nam (VNCB), NHTMCP Đại Dương ( Oceanbank), NHTMCP Xăng Dầu Petrolimex (PG Bank).
Cả ba ngân hàng trên đều có tỷ lệ nợ xấu rất cao.