Chương 1: Giới thiệu về đề tài Nêu tổng quan về nghiên cứu, lý do hình thành đề tài, trình bảy mục tiêu, phạm vi, ý nghĩa thực tiễn và bố cục của đề tài. s* Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghỉ ên cứu Nêu định nghĩa va các lý thuyết liên quan về khá niệm ‘to hội kinh doanh” và “Sự nhận diện cơ hội kinh doanh”. Dé xuấ mô hình nghiên cứu dé xuấ và các giả thuyết trong mô hình. * Chương 3: Thiết kế nghỉ ên cứu Trình bảy phương pháp nghiên cứu để kiểm tra thang đo, kiếm định sự phù hop của mô hình nghiên cứu với các giả thuyết dé ra và thông tin về mẫu.
%* Chương 4: Phân tích dữ liệu và thảo luận kết qua Dùng phan mềm SPSS va AMOS để phân tích dữ liệu và thảo luận về kết quả thu được. ¢ Chương 5: kết luận và kiến nghị Tom tat cá két quả chính của nghiên cứu, cá kêt luận và kiên nghị. Những đóng góp và hạn chế của đề tài, hướng nghiên cứu tiếp theo. % Tài liệu tham khảo + Phụ lục Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYÉT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết Cơ sở lý thuyết được sử dụng trong dé tài nghiên cứu nay được dựa trên các lý thuyết trong ba nghiên cứu trước đó, bao gồm: e Nghiên cứu “A theory of entrepreneurial opportunity identification and development” cua Ardichvili, Cardozo, Ray vao nam 2003.
e Nghiên cứu “Entrepreneurial opportunity recognition: an empirical study of R&D personel” cua Wang, Ellinger, Wu vao nam 2013. e Nghiên cứu “Entrepreneurial alertness in the pursuit of new opportunities ” cua Tang J, Kacmar K, Busenitz L vao nam 2012. Định nghĩa va các lý thuyết liên quan đến khái niệm cơ hội kính doanh và sự nhận diện cơ hột kính doanh 2.1 Cơ hội kinh doanh (Entrepreneurial Opportunity) Cơ hội kinh doanh theo nghĩa rộng có thể là một dip (chance) phat hiện ra được nhu cau của thị trường va thong qua sự kết hop sáng tao các nguồn lực dé cung cấp giá tri vượt trội (Schumpeter, 1934; Kirzner, 1973; Casson, 1982). Cơ hội kinh doanh là một tình huồng, trong đó một người có thể tạo ra một cách thức mới để kết hợp các nguồn lực mà anh ta hoặc cô ta tin rằng sẽ mang đến lợi nhuận (Shane ,2003).
Theo Kirzner (1997), thì cơ hội ở dạng sơ khai nhất của nó, có thể xuất hiện như là một “nhu cầu chưa được xác định rõ của thị trường” hoặc “hhững tài nguyên hay khả năng không hoặc chưa được sử dụng” Về sau, có thể bao gồm thêm những công nghệ, những phác minh hoặc ý tưởng chưa xác định được thị trường. Khách hàng tiềm năng có thé có hoặc có thé không nói rõ nhu cau, sở thích hoặc cá vấn đề của họ (Von Hippel, 1994). Tuy nhiên, ngay cả khi khách hàng tiềm năng không thể làm những điều đó, họ vẫn có khả năng nhận thức được những giá trị được mang đến cho họ trong một sản phẩm mới, khi họ được giới thiệu vé nó, và được giải thích về cách thức vận hành cũng như cá lợi ích cua nó. Cơ hội được nhìn từ quan điểm của khách hàng tiềm năng sẽ đại diện cho giá trị cần được tìm kiếm (Ardichvili et al, 2003).
Các nguồn lục không được sử dụng hoặ chưa được sử dụng, cũng như những công nghệ mới có thể cung cấp khả năng tao ra và mang đến những giá trị mới cho kháh hàng mục tiêu, thậm chí ngay cả khi công dụng của những sản phẩm mới van chưa được xác định rõ ràng. Ví dụ như công nghệ để tạo ra vật liệu kết hợp cả hai đặc tính của kim loại và thuỷ tinh được phát triển trước khi có những ứng dung đột phá của loại vat liệu này (Ardichvili et al, 2003). Khi nhu cau thị trường được định hình rõ ràng hơn về mặt giá tri và lợi ích được tìm kiếm bởi những người tiêu dùng cụ thé, và các nguồn lực được định nghĩa rõ ràng hơn về tiềm năng sử dung, ‘to hội kinh doanh” sẽ tiến triển từ dạng nguyên tố của nó, trở thành một khá niệm kinh doanh. Khá niệm này bao gồm các quan niệm cốt lõi về cách mà thị trường có thể được phục vụ ho& cách triển khai các nguồn lực.
Như cá cách mà khá niệm kinh doanh này tự phat triển, nó sẽ trở nên phức tạp hơn, bao gồm cá khá niệm về sản phẩm, dịch vụ (cá gi sẽ được cung cấp cho khách hàng), khá nệm về thị trường, cá khá niệm vé chuỗi cung ứng, tiếp thị, cận hành.2 Su nhận diện cơ hội kinh doanh (Opportunity Identification ) Sự nhận diện cơ hội kinh doanh (opportunity identification) được xem như là một quá trình, nó được bắt đầu với một tầm nhìn tiên phong (initial vision), hoặc một ý tưởng kinh doanh, và được phát triển thành một tầm nhìn được xây dựng chi tiết hoặc một cơ hội kinh doanh (Long and McMullan,1984). Sự nhận diện cơ hội kinh doanh đối với một cơ hội (a chance) là khả năng nhận ra cách thức kết hợp các nguồn lực để có thể tạo ra lợi nhuận (Shane, 2003). Cơ hội kinh doanh phá triển băng sự định hình các yếu tố ý tưởng riêng biệt trong kế hoạch kinh doanh tổng thể. Nhưng quá trình phác triển cơ hội kinh doanh được tách biệt về mat khá niệm với sự nhận diện cơ hội kinh doanh.
Điều mà hau hết các lý thuyết về tinh thần doanh nhân gọi là “su nhận diện co hội 6 kinh doanh” bao gồm ba quá trình riêng biệt: (1) cảm nhận hoặc nhận thức nhu cầu thị trường vàhoặc tài nguyên chưa được sử dụng, (2) nhận diện hoặ phát hiện ra một “Su phù hợp” giữa cá nhu cầu thị trường cụ thể và các nguồn lực xác định, (3) tao ra một “Sự phù hợp” mới giữa các nhu cầu và nguồn lực tách biệt trước đây dưới dạng một khá niệm kinh doanh (Hills, 1995; De Koning 1999). Các quá trình này đại diện, tương ứng, nhận thức, khám phá va sáng tạo chứ không chỉ đơn giản là “hhận diện” (Christensen et al., 1989; Conway and McGuinness, 1986; Singh et al. Một số cá nhân rat nhạy cảm với nhu cầu thị trường hoặc cá van đề mà ho cảm nhận được, có khả năng liên tục cho ra cá sản phẩm mới hoặc các giải pháp mới trong bat cứ môi trường nào ma họ cảm thấy hứng thú (Endsley, 1995). Họ có thể nhận diện được các cơ hội một cách đơn giản thông qua việc quan sat các hiện tượng, ví dụ như cha mẹ cố găng làm bữa tối trong khi phải quản lý những đứa trẻ nhỏ, công việc này khá khó khăn với các bậ cha mẹ.
Và họ sẽ tìm ra giả pháp để khiến công việc này trở nên dễ dàng hơn và bán chúng cho các bậc cha mẹ. Độ nhạy cảm này đối với những van đề hoặc khả năng không nhấ thiết phải mở rộng đến mức tạo ra được ý tưởng cho các giải pháp để giả quyết các van dé. Không phải tấ cả những người giỏi trong việc dat câu hỏi cũng là những người giỏi trong việc đưa ra câu trả lời (Ardichvili et al, 2003). Một số các cá nhân khá có thể đặ biệt nhạy cảm trong việc xác định cá nguồn luc không hoặc chưa được sử dụng, chăng hạn như các mảnh dat không được sử dụng, cơ sở sản xuất nhàn rỗi, công nghệ hoặc phá minh chưa được khai thá, các tai sản tài chính yếu kém, và tương tự.
Mặc dù xác định được cá nguôn lực như thế, tuy nhiên những cá nhân này có thể không có khả năng xác định cách thức sử dụng hoặc người sử dụng để các nguồn lực này có thể tạo ra giá tri. Các nhà phat minh, nhà khoa học hoặ các cá nhân có thể tạo ra ý tưởng cho những sản phẩm và dịch vụ mới mà không quan tâm đến sự chấp nhận của thị trường hay khả năng thương mại hoá của các sáng chế hoặc công nghệ mới (Ardichvili et al, 2003). Các cơ hội càng duoc phát triển day đủ hon cho các giá tri tim kiếm hoặc các giá trị tạo ra, thì càng nhiều khả năng chúng sẽ được chấpnhận bởi một số lượng lớn hơn các cá nhân. Sự mô tả càng chính x& và hoàn thiện hơn, thì việc xác định các rủi ro liên quan đến cơ hội càng dễ dàng hơn (Ray and Cardozo, 1996).2 Tổng quan các lý thuyết có liên quan đến sự nhận diện cơ hoi kinh doanh 2.1 Đánh gia cơ hội kinh doanh (Opportunity Evaluation) Cơ hội kinh doanh được đánh giá ở từng giai đoạn phá triển của nó.
Mặc dù việc đánh giá này có thể không chính thức hoặc thậm chí không được đề cập đến (limmons, Muzyka, Stevenson, Bygrave, 1987). Các cá nhân có thé không chính thức theo đuổi việc tìm hiểu về các nhu cầu được phỏng đoán của thị trường hoặc cá nguồn luc (bao gồm các sáng chế) cho đến khi có được kết luận, hoặc đến khi những theo đuổi chính thức hơn trở nên phù hợp. Sự đánh giá này có thể không được truyền thông cho những người khá cho đến khi có một yêu câu được đưa ra đê gan kêt ca nguôn lực cho những sự tìm hiệu sâu hơn (Ardichvili et al, 2003). Đối với trường hop các sáng chế, sản phẩm hoặc dịch vụ tiềm năng mới.
Việc đánh giá chính thức dau tiên có thé bao gồm phân tích khả thi, trong đó dé cập đến câu hỏi liệu sự kết hop dé xuấ của các nguồn tài nguyên có thé, trên thực tế mang lại giá trị nhất định. Một phân tích khả thi cũng sẽ có khả năng đánh giá xem liệu giá trị mà một sự kết hợp cụ thé của các nguồn tai nguyên có thể mang đến sự thành công về mặt kinh tế. Phân tích khả thi hữu dụng cho các cổ đông bao hàm sự ton tại của cá khá niệm kinh doanh, thậm chí dưới hình thức so đăng. Nếu một khái niệm kinh doanh vẫn chưa được phá triển, nghiên cứu khả thi dựa trên một trong hai: nhu cầu của thị trường (gia tri tìm kiếm) hoặc cá nguồn luc (khả năng tạo ra giá tri) có thể làm rõ cá khá niệm kinh doanh khả thi (Ardichvili et al, 2003).
Một quy trình phố biến của sự đánh giá, được điều chỉnh để phù hop trong nhiều trường hợp có tên là quy trình “§tage-gafe”, quy trình này mang đến một sự đánh giá rõ ràng tai mỗi cấp độ của sự phá triển. Dù có hay không việc một cơ hội sẽ vượt qua từng 'tánh cong” (gate), dé phát triển đến một quy mô lớn, trên một số lượng hạn chế hoặc giới hạn trả nghiệm phô biến của các doanh nhân, chăng hạn như mục tiêu lợi nhuận, mức độ chấp nhận rủi ro, nguồn lực tài chính, trách nhiệm cá nhân và mục tiêu cá nhân.