CHƯƠNG 1 Tiếp cận góc độ tài chính, chương này đã chỉ ra tầm quan trọng của lợi nhuận đối với việc đo lường và đánh giá hiệu quả tài chính của NHTM, góp phần vào sự tồn tại và phát triển của NHTM; bên cạnh đó đề tài cũng đã chỉ ra được sự cần thiết và tính tất yếu cũng như tính cấp thiết trong việc nghiên cứu các yếu tố có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTM từ các bằng chứng thực nghiệm là các nghiên cứu trước của nhiều tác giả khác nhau và thực tiễn các NHTM Việt Nam, đề tài đã khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu được lựa chọn. Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, chương này cũng đưa 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ được xác định giải quyết thông qua 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã chỉ ra đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu về nội dung, thời gian và không gian; theo đó đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu 13 NHTM đang có cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung (thị trường niêm yết) trong giai đoạn 11 năm, kể từ năm 2008 đến năm 2018. Bên cạnh đó, đề tài cũng nêu rõ nguồn dữ liệu được sử dụng cho nghiên cứu, kết hợp cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu.
Sau khi đề tài đã khẳng định ý nghĩa, đóng góp về việc cung cấp thông tin hữu ích cho các chủ thể khác nhau, chẳng hạn như đối với nhà quản trị NHTM hay đối với nhà đầu tư, Chính phủ hay NHNN,.; cuối cùng, chương này đã cung cấp thông tin khái quát cấu trúc của đề tài với 5 chương nội dung chính. z 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN Chương 2 sẽ thực hiện khảo lược cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, qua đó thảo luận để xác định khoảng trống nghiên cứu và thiết kế mô hình nghiên cứu cho đề tài cho trường hợp các NHTM đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Lợi nhuận (Profitability) là chỉ tiêu tài chính quan trọng, được quan tâm bởi tất cả các chủ thể có liên quan đến doanh nghiệp nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng; và dưới góc độ tài chính, lợi nhuận cần phải xem xét trong mối quan hệ với các nguồn lực mà doanh nghiệp đã sử dụng để tạo ra nó như tổng vốn đầu tư, vốn chủ sở hữu,. Như vậy, lợi nhuận được tiếp cận trong đề tài là thước đo dạng số tương đối, thể hiện khả năng sinh lời của các NHTM niêm yết trên TTCK Việt Nam.
Dưới góc độ quản trị tài chính NHTM, mục tiêu lợi nhuận được nhận diện, đánh giá thông qua khả năng tạo ra lợi nhuận dành cho các chủ sở hữu (cổ đông) và được đo lường bởi chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE (Return on Equity). Suất sinh lời trên vốn chủ Lợi nhuận sau thuế = sở hữu (ROE) Vốn chủ sở hữu bình quân Suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cho biết một đồng vốn của chủ sở hữu thì NHTM tạo ra cho họ bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu lợi nhuận này đã tính đến z 9 tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính. Nếu suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu được tiếp cận theo giá thị trường thì đây sẽ là chỉ tiêu so sánh với chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu, qua đó đánh giá hiệu quả quản trị tài chính của NHTM trong việc thực hiện mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản cho chủ sở hữu, hay giúp cho nhà đầu tư nhận biết giá thị trường của cổ phiếu NHTM đang trong tình trạng cao, thấp hay đúng giá. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Thứ nhất, quy mô ngân hàng thương mại Theo lý thuyết lợi thế kinh tế vì quy mô (Economies of scale theory), quy mô ngân hàng càng lớn thì chi phí trong dài hạn giảm và do đó góp phần gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng; tuy nhiên lý thuyết bất lợi kinh tế vì quy mô (Diseconomies of scale theory) thì ngược lại với nội dung lợi thế về quy mô chỉ phát huy trong một giới hạn nhất định nào đó mà khi quá ngưỡng trên việc tăng quy mô không còn đem lại lợi thế nữa khi chi phí bình quân trong dài hạn có xu hướng gia tăng từ đó lợi nhuận sẽ giảm đi.
Do đó, việc quy mô ngân hàng có ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận sẽ còn phụ thuộc vào mức độ quy mô của ngân hàng hiện tại có thực sự phù hợp và dựa trên cơ sở là hai lý thuyết trên. Thứ hai, rủi ro tín dụng Theo lý thuyết rủi ro và lợi nhuận trong quản trị tài chính, NHTM cấp tín dụng cho khách hàng và kỳ vọng mang cho NHTM một khoản lợi nhuận; tuy nhiên lợi nhuận mà NHTM đạt được có thể cao, bằng hoặc thấp hơn kỳ vọng, điều này được lý giải bởi ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận, có thể không có ảnh hưởng của rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của NHTM, nhưng cũng có thể rủi ro tín dụng có ảnh hưởng làm giảm lợi nhuận của NHTM. Ngoài ra, Berger và DeYoung (1997) đưa ra hai giả thuyết nhằm giải thích ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của NHTM là lý thuyết “Kém may mắn” – “Bad Luck” theory và lý thuyết “Quản lý kém” – “Bad Management” theory, hai lý thuyết này cho rằng rủi ro tín dụng càng cao sẽ ảnh hưởng giảm lợi nhuận của NHTM, vì khi đó z 10 các NHTM phải thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tín dụng nhiều hơn, làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận ròng của các NHTM. Như vậy, rủi ro tín dụng là một trong những yếu tố mà nếu được quản trị tốt thì lợi nhuận của các NHTM được đảm bảo như kỳ vọng, và ngược lại, nghĩa là NHTM có rủi ro tín dụng càng lớn thì lợi nhuận càng thấp.
Thứ ba, quy mô vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn được tạo nên từ sự góp vốn ban đầu bởi chủ sở hữu của các ngân hàng và được bổ sung từ lợi nhuận được giữ lại trong quá trình hoạt động kinh doanh. Quy mô vốn chủ sở hữu không trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận, nhưng vốn chủ sở hữu ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn của NHTM, qua đó ảnh hưởng đến lợi nhuận; chẳng hạn như NHTM gia tăng vốn chủ sở hữu cũng giúp các ngân hàng nâng cao năng lực tài chính để đảm bảo hệ số an toàn vốn tiến tới việc đáp ứng đủ tiêu chuẩn về CAR của Basel II, gia tăng niềm tin nơi người gửi tiền, từ đó gia tăng cơ hội cho NHTM để có thể huy động vốn với lãi suất thấp hơn, chi phí trả lãi sẽ ít hơn và do đó làm cho lợi nhuận tăng lên; hay nhờ vốn chủ sở hữu lớn hơn nên các NHTM được cơ hội mở rộng hơn hoạt động đầu tư cũng như cấp tín dụng và qua đó góp phần tạo nên lợi nhuận nhiều hơn, góp phần gia tăng lợi nhuận. Thứ tư, tỷ lệ cho vay trên tổng vốn huy động Theo lý thuyết chức năng trung gian tài chính của NHTM, NHTM huy động vốn trong đó chủ yếu là huy động tiền gửi của khách hàng và sử dụng vốn huy động để cung ứng vốn cho chủ thể thiếu vốn trong nền kinh tế nhằm hưởng chênh lệch lãi suất (Nguyễn Minh Kiều, 2007). Vì vậy tỷ lệ cho vay trên tổng vốn huy động của khách hàng cho biết mức độ sử dụng nguồn vốn huy động được để cho vay nhằm tạo ra thu nhập cho ngân hàng.
Việc quản lý tỷ lệ này mang tính chất quản lý nhà nước và được quy định bằng văn bản pháp luật nhằm đảm bảo tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, cơ cấu tín dụng phù hợp, trong đó tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. z 11 Thứ năm, quy mô cho vay Lý thuyết chung về quản trị tài chính, đầu tư là một trong những quyết định tài chính chủ yếu và là cơ sở tạo ra thu nhập cho các chủ thể. Cho vay được xem là một trong những khoản mục tài sản hình thành từ quyết định đầu tư của NHTM, là cơ sở mang lại lợi nhuận cho NHTM, vì vậy quy mô cho vay càng lớn thì càng mang lại cơ hội cho NHTM có thể tạo ra được nhiều lợi nhuận. Tuy vậy, ở một khía cạnh khác, theo lý thuyết rủi ro và lợi nhuận đã được đề cập ở trên nếu thị trường nhiều rủi ro kèm theo sự gia tăng rủi ro tín dụng nhưng không kiểm soát được hoặc khả năng kiểm soát kém cũng có thể làm cho sự gia tăng quy mô cho vay ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTM biến động theo chiều hướng tiêu cực.
Thứ sáu, hiệu quả quản lý chi phí của ngân hàng thương mại Hiệu quả quản lý chi phí là một trong những yếu tố phi tài chính góp phần vào sự thành công của doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng. Một NHTM quản lý tốt sẽ đảm bảo được chất lượng các khoản đầu tư, khai thác tốt các nguồn lực, sử dụng đòn bẩy tài chính phù hợp hay kiểm soát tốt thu nhập và chi phí, qua đó góp phần đảm bảo cho mục tiêu gia tăng lợi nhuận của NHTM. Một NHTM đảm bảo hiệu quả quản lý tốt và gia tăng sẽ thể hiện rằng những người quản lý thực hiện tốt trách nhiệm quản lý, đảm bảo NHTM có thể tiết kiệm chi phí và đầu tư vào các tài sản có thể sinh lời cao (Maudos và Guevara, 2004), vì vậy hiệu quả quản lý là một trong những yếu tố để các nhà quản trị NHTM cân nhắc trong việc đưa ra các chương trình, chính sách góp phần tăng trưởng lợi nhuận. CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN Trong thời gian qua, đã có rất nhiều nghiên cứu trong nước và ngoài nước về các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM.