Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương 2: Tổng quan lý thuyết về huy động vốn tiền gửi đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại. Chương 3: Thiết kế mô hình. Chương 4: Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động vốn tiền gửi đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Gia Lai.
Chương 5: Giải pháp phát huy các yếu tố tích cực nhằm nâng cao huy động vốn tiền gửi đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Gia Lai. z 5 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2. Huy động vốn tiền gửi đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng thƣơng mại 2. Hoạt động huy động vốn tiền gửi đối với khách hàng cá nhân tại NHTM Theo Peter Rose: Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của ngân hàng.
Đây là khoản mục duy nhất trên bảng cân đối kế toán giúp phân biệt ngân hàng với các loại hình doanh nghiệp khác. Năng lực của đội ngũ nhân viên cũng như các nhà quản lý ngân hàng trong việc thu hút tiền gửi giao dịch và tiền gửi tiết kiệm từ doanh nghiệp và cá nhân là một thước đo quan trọng về sự chấp nhận của công chúng đối với ngân hàng. Tiền gửi là cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó, nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển. Vốn huy động của NHTM là giá trị tiền tệ mà các NHTM huy động được trên thị trường thông qua nghiệp vụ tiền gửi, tiền vay và một số nguồn vốn khác.
Hoặc có thể hiểu: Vốn huy động là tài sản bằng tiền thuộc sở hữu của các chủ thể trong nền kinh tế (bao gồm cả pháp nhân và thế nhân), được ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng để kinh doanh trong một thời gian xác định sau đó sẽ hoàn trả cho chủ sở hữu. Ở Việt Nam, theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010, tại khoản 12, điều 4: Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Và khoản 13, điều 4: Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc và lãi cho người gửi theo thỏa thuận. Huy động vốn tiền gửi đối với khách hàng cá nhân là việc nhận tiền gửi của các cá nhân dưới hình thức tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền z 6 gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi theo thỏa thuận.
Đặc điểm Các chủ thể tham gia trong huy động vốn tiền gửi đối với khách hàng cá nhân bao gồm: NHTM với vị thế là người huy động vốn tiền gửi và khách hàng cá nhân với vị thế là người cung cấp vốn cho ngân hàng. Hình thức huy động vốn tiền gửi đối với KHCN của NHTM ngày càng đa dạng, đáp ứng yếu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế. NHTM có thể huy động vốn tiền gửi đối với KHCN bằng các hình thức như nhận tiền gửi không kỳ hạn, nhận tiền gửi có kỳ hạn và phát hành các giấy tờ có giá. Khi khách hàng có nhu cầu rút tiền thì ngân hàng sẽ trả lại tiền gốc đã huy động và tiền lãi cho khách hàng.
Khoản lãi này là chi phí mà ngân hàng phải trả khi thực hiện huy động vốn của khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định. Do đặc điểm ổn định và mục đích hưởng lãi của khách hàng nên chi phí huy động vốn từ KHCN khá cao. Chi phí huy động vốn bao gồm chi phí lãi và chi phí ngoài lãi. Chi phí trả lãi là lãi phải trả cho các loại tiền gửi mà ngân hàng phát hành căn cứ theo lãi suất huy động ngân hàng và khách hàng đã có thỏa thuận.
Chi phí ngoài lãi rất đa dạng, bao gồm các chi phí trả trực tiếp cho người gửi như quà tặng, kèm bảo hiểm,. chi phí lương cho cán bộ nhân viên ngân hàng, chi phí tăng tiện ích cho người gửi tiền như mở thêm chi nhánh, phòng giao dịch,… Huy động vốn tiền gửi là hoạt động có tính hoàn trả, vì NHTM là người đi vay vốn nên chỉ có quyền sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả cho chủ sở hữu cả vốn gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn. Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM, đóng vai tr quan trọng nhưng cũng không kém phần rủi ro cho NHTM. Thông thường vốn huy động chiếm tỷ trọng trên 90% tổng nguồn vốn.
Do đó, nếu NHTM không có chiến lược quản trị thanh khoản tốt sẽ dẫn đến tình trạng z 7 thừa, thiếu hụt thanh khoản vượt mức cho phép hoặc nếu khách hàng rút vốn hàng loạt tại cùng một thời điểm dẫn đến nguy cơ gây ra sụp đổ và phá sản của hệ thống ngân hàng. Hoạt động huy động vốn đối với KHCN chỉ có thể thực hiện khi có sự tin tưởng và tín nhiệm của KHCN dành cho ngân hàng. Vì thế, ngân hàng phải tuân thủ về bảo mật thông tin khách hàng, quy trình huy động vốn và sử dụng vốn huy động cần có sự kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo tính an toàn cho tài sản của khách hàng. Đây là nguồn vốn có tính cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng.
Vốn huy động chỉ được sử dụng trong các hoạt động tín dụng và bảo lãnh, các NHTM không được sử dụng vốn này để đầu tư sau khi trừ các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán. Các hình thức huy động vốn tiền gửi đối với KHCN tại NHTM Tiền gửi khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng của NHTM, chiểm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của NHTM. Trong xu thế thị trường tài chính ngày càng phát triển, các chủ thể trong nền kinh tế sẽ có cơ hội lựa chọn các hình thức đầu tư hợp lý, đảm bảo an toàn, có sinh lời dựa trên nguồn vốn của mình. Do nhu cầu và động thái gửi tiền của KHCN khác nhau nên để thu hút được nhiều khách hàng gửi tiền trong môi trường cạnh tranh, NHTM phải thiết kế và phát triển các hình thức huy động vốn ngày càng đa dạng và phong phú.
Các hình thức huy động vốn tiền gửi theo mục đích huy động vốn bao gồm các hình thức sau: Tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn hay còn gọi là tiền gửi thanh toán là tiền của KHCN gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ hộ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép, ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu thanh toán cho khách hàng khi họ có nhu cầu. Nhìn chung lãi suất của loại tiền gửi này rất thấp nhưng thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng những dịch vụ ngân hàng với mức phí thấp. Như vậy, với tiền gửi không kỳ hạn, khách hàng có thể gửi tiền, rút tiền, thực hiện các giao z 8 dịch thanh toán qua ngân hàng tại bất kỳ thời điểm nào mà không cần báo trước (nên ngân hàng rất khó lên kế hoạch cho việc sử dụng nguồn vốn này – do đó chi phí cho nguồn vốn này rất rẻ); giao dịch liên quan tới tài khoản sẽ được thực hiện thường xuyên, vì thể mục đích của người gửi tiền chủ yếu là thanh toán, ngoài ra c n được hưởng các tiện ích khác như an toàn, sinh lời, sử dụng thẻ thanh toán để rút tiền tại các máy ATM hoặc thanh toán tại các điểm chấp nhận thẻ, có thể dễ dàng chuyển đổi sang các hình thức tiền gửi khác,.
Với đặc điểm lãi suất thấp, khách hàng dường như không quan tâm tới tiền lãi nên việc thanh toán lãi thường do ngân hàng chọn ngày trả lãi. Thông thường các ngân hàng trả lãi định kỳ mỗi tháng một lần, vào một ngày cụ thể do ngân hàng quy định. Hình thức trả lãi đối với tiền gửi không kỳ hạn là ngân hàng sẽ tự động ghi có vào tài khoản của khách hàng. Tiền lãi được tính theo số dư thực tế vào thời điểm cuối ngày theo phương pháp tích số: I = ∑i=1n 𝑫𝒊 ∗ 𝑵𝒊 ∗ 𝒓 Trong đó: - Di: số dư thực tế trên tài khoản.
- Ni: số ngày tính lãi thực tế của Di (ngày). - r: lãi suất tiền gửi không kỳ hạn (%/ngày). Mặc dù số dư trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng thường không lớn nhưng với số lượng khách hàng đông giúp cho tổng nguồn vốn huy động qua TGKKH trở nên đáng kể. Ngoài ra, việc thanh toán qua tài khoản tiền gửi này còn giúp tăng nguồn thu phí dịch vụ cho các NHTM, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động thanh toán bằng tiền mặt của nền kinh tế.
Vì vậy, để tăng cường nguồn vốn này, ngân hàng phải kết hợp chặt chẽ giữa các mặt: tổ chức mạng lưới phục vụ khách hàng, cung cấp đa dạng các dịch vụ thanh toán và ngày càng tăng chất lượng dịch vụ cũng như công tác phục vụ, chăm sóc khách hàng. Tiền gửi có kỳ hạn z 9 Tiền gửi có kỳ hạn hay còn gọi là tiền gửi định kỳ là hình thức huy động các khoản tiền nhàn rỗi tạm thời chưa sử dụng và khách hàng chỉ được rút ra sau một khoảng thời gian nhất định. Như vậy, mỗi lần gửi tiền tương ứng với một hợp đồng tiền gửi, trong đó ngân hàng và khách hàng sẽ thỏa thuận cụ thể các nội dung như: ngày gửi, số tiền gửi, lãi suất, hình thức thanh toán gốc và lãi, thời hạn thanh toán,… Khách hàng phải rút tiền theo đúng thời hạn hợp đồng khi kết thúc một kỳ hạn. Khi phát sinh nhu cầu rút tiền trước hạn thì phải thông báo với ngân hàng.
Khi đáo hạn mà khách hàng không tới rút tiền thì ngân hàng có thể gia hạn kỳ hạn mới hoặc chuyển vào tài khoản không kỳ hạn.