chương 1, tác giả tập trung xác định những vấn đề cần giải quyết trong nghiên cứu, trình bày lý do lựa chọn đề tài, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của nó đối với nghiên cứu. Cùng với đó, tác giả làm rõ mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Đây là những bước quan trọng để tạo nền tảng cho các chương tiếp theo. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Nội dung chương hai tập trung giới thiệu khung lý thuyết và cơ sở lý thuyết liên quan về hành vi quản lý tài chính cá nhân của gen Z.
Đồng thời, chương này cũng sẽ lược khảo các tài liệu nghiên cứu trước liên quan đến đề tài được tiến hành ở trong và ngoài nước. Bằng việc này, tác giả sẽ đưa ra những khoảng trống của nghiên cứu, từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu mà tác giả đề xuất cho đề tài. Hành vi quản lý tài chính cá nhân Theo Van Horne và Wachowicz (2002), hành vi quản lý tài chính là việc xác định, mua lại, phân bổ và sử dụng các nguồn tài chính, thường có mục tiêu chung. Weston và Brigham (1981) mô tả hành vi quản lý tài chính là một lĩnh vực ra quyết định về tài chính, hài hòa giữa động cơ cá nhân và mục tiêu của doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Grable và cộng sự (2009) chỉ ra rằng hành vi quản lý tài chính hiệu quả sẽ cải thiện phúc lợi tài chính một cách tích cực và việc không quản lý tài chính cá nhân có thể dẫn đến những hậu quả xã hội và xã hội tiêu cực lâu dài. Theo Dayanti và cộng sự (2020), chi tiêu khôn ngoan, đầu tư khôn ngoan và hoàn thành nghĩa vụ đúng hạn là một vài ví dụ trong hành vi quản lý tài chính. Theo Shim và cộng sự (2010), một trong những nỗ lực trong việc hình thành đặc điểm của hành vi tài chính là phát triển hành vi quản lý tài chính cá nhân bằng cách thực hiện lập kế hoạch tài chính và tự kiểm soát tiền bạc. Với Putri và cộng sự (2023), quản lý tài chính là một phần của hoạt động quản lý tài chính cá nhân, là quá trình một cá nhân đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống thông qua các hoạt động quản lý nguồn tài chính một cách có hệ thống và có tổ chức.
Trong một nghiên cứu của Goyal và cộng sự (2023), hành vi quản lý tài chính được coi là khả năng của một người thực hiện tốt việc quản lý tài chính hàng ngày 9 dựa trên việc lập kế hoạch, lập ngân sách, kiểm tra, quản lý, kiểm soát, tìm kiếm và lưu trữ. Hành vi quản lý tài chính cũng có thể được định nghĩa là xu hướng lập kế hoạch, tiết kiệm và kiểm soát chi phí tài chính của một cá nhân (Ariyastini và Candraningrat, 2023). Theo nghiên cứu của Deacon và Firebaugh (1988), quản lý tài chính cá nhân được định nghĩa là tập hợp các hành vi được thực hiện liên quan đến việc lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá liên quan đến các lĩnh vực tiền mặt, tín dụng, đầu tư, bảo hiểm, hưu trí. Ở Việt Nam, có nhiều nghiên cứu trước chỉ xem xét một khía cạnh của hành vi quản lý tài chính như đầu tư (Nguyễn Thị Mai Hương và cộng sự, 2022), tiết kiệm (Nguyễn Tường Vân và Lê Văn Hinh, 2019), thẻ tín dụng (Nguyễn Cao Quang Nhật và Bùi Văn Thụy, 2022).
Khóa luận mở rộng các nghiên cứu trước trong việc tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi quản lý tài chính cá nhân nói chung. Gen Z (Thế hệ Z) Trong nghiên cứu của Kupperschmidt (2000), thế hệ được định nghĩa là nhóm có thể xác định được có cùng năm sinh, vị trí tuổi và các sự kiện quan trọng trong đời ở các giai đoạn phát triển quan trọng. Khái niệm này là một đặc điểm biến đổi trong quá trình lịch sử. Sự phân chia thế hệ dựa trên sự khác biệt về văn hóa, sự kiện lịch sử và biến đổi xã hội là đối tượng nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực từ xã hội học đến tâm lý học (Alwin và McCammon, 2007).
Gen Z (còn được gọi là Zoomers) là nhóm nhân khẩu học nằm giữa thế hệ Millennials và thế hệ Alpha. Các nhà nghiên cứu và các phương tiện truyền thông phổ biến nhận định khoảng thời gian được sinh ra của thế hệ này là từ những năm giữa-đến-cuối thập niên 1990 đến những năm đầu thập niên 2010 (hoặc từ năm 1997 đến năm 2012 theo một nghiên cứu đến từ trung tâm nghiên cứu Pew). Trong phạm vi nghiên cứu này sẽ thực hiện khảo sát trên đối tượng gen Z từ năm 1997 đến năm 2010 (khoảng từ 14-27 tuổi). Lý thuyết vốn con người (HCT) (Becker, 1964) Lý thuyết vốn con người (Human Capital Theory - HCT) (Becker, 1964) được phát triển vào năm 1964 chỉ ra rằng những hiểu biết, kiến thức của con người sẽ mang lại năng suất và sự phát triển.
Lý thuyết HCT hiện đại cho rằng “tất cả các hành vi của con người đều xuất phát từ những nhu cầu lợi ích kinh tế cho chính các cá nhân hoạt động tự do trong thị trường mang tính cạnh tranh. HCT cho rằng đầu tư vào con người hôm nay sẽ mang lại lợi nhuận trong tương lai. Nó chỉ rõ một cơ chế cụ thể mà qua đó trình độ học vấn có mối tương quan thuận với thu nhập: giáo dục nâng cao kỹ năng, và những kỹ năng này lần lượt làm tăng năng suất; năng suất cao hơn sau đó được khen thưởng thông qua thu nhập cao hơn (Becker, 1964; Mincer, 1974). Vốn con người được định nghĩa trong Từ điển tiếng Anh Oxford là “các kỹ năng mà lực lượng lao động sở hữu và được coi là nguồn lực hoặc tài sản”.
Nó bao gồm quan điểm cho rằng có sự đầu tư vào con người (ví dụ: giáo dục, đào tạo, y tế) và những khoản đầu tư này làm tăng năng suất của một cá nhân. Theo Becker (1964), vốn con người là tư liệu sản xuất vật chất. Với Cohn và Geske (1992), vốn con người là một khoản đầu tư vào giáo dục và đào tạo mang lại lợi ích cho cả cá nhân và xã hội. Theo Schultz (1961), vốn con người là kiến thức và kỹ năng mà con người có được thông qua giáo dục và đào tạo là một dạng vốn, vốn này là sản phẩm của đầu tư có chủ đích mang lại lợi nhuận.
Lợi nhuận vừa mang tính riêng tư đối với cá nhân dưới dạng thu nhập tăng thêm, vừa mang tính chung cho xã hội dưới dạng năng suất cao hơn do những người có trình độ cung cấp (Becker, 1962). Nguyên tắc cơ bản làm nền tảng cho HCT là niềm tin rằng năng lực học tập của con người có giá trị tương đương với các nguồn lực khác liên quan đến sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Khi nguồn lực được sử dụng hiệu quả, kết quả sẽ mang lại lợi nhuận cho cá nhân, tổ chức và xã hội nói chung (Schultz, 1961). Do đó, HCT tìm cách giải thích lợi ích của giáo dục và đào tạo như một hình thức đầu tư vào nguồn nhân lực (Aliaga, 2001), và đề xuất chính là con người được coi là một dạng vốn để 11 phát triển (Becker, 1964; Benhabib and Spiegel, 1994; Aliaga, 2001; Hendricks, 2002; Engelbrecht, 2003).
Từ góc độ này, giáo dục và học tập được coi là những khoản đầu tư có chủ ý nhằm chuẩn bị lực lượng lao động và tăng năng suất của các cá nhân và tổ chức, cũng như khuyến khích tăng trưởng và phát triển ở cấp độ quốc tế. Vì vậy, tác giả quyết định thêm yếu tố “hiểu biết tài chính” như một biến độc lập trong mô hình nghiên cứu. Lý thuyết nhận thức xã hội (SCT) (Bandura, 1989) Lý thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory - SCT) (Bandura, 1989) cho rằng các quá trình nhận thức và quá trình xã hội là cần thiết trong việc tìm hiểu cảm xúc, động cơ và hành động của con người. Ở góc độ nhận thức xã hội, các cá nhân có khả năng hành xử chủ động và có thể tự điều chỉnh hơn là hành động bị kiểm soát bởi các lực lượng bên ngoài hoặc môi trường bên ngoài kiểm soát.
Bên cạnh đó, cá nhân có niềm tin vào bản thân sử dụng cảm xúc, suy nghĩ và hành động. Nhiều nhà nghiên cứu sử dụng SCT để giải thích và phân tích mối quan hệ giữa cá nhân tác động đến hành vi, môi trường và đi đến kết quả giúp các cá nhân đạt được mức độ tự điều chỉnh. Điểm chính của SCT bao gồm: - Học tập qua quan sát: Con người học tập bằng cách quan sát hành vi của người khác và mô phỏng hành vi đó. - Niềm tin vào năng lực bản thân: niềm tin vào khả năng thực hiện thành công một nhiệm vụ ảnh hưởng đến hành vi của con người.
- Kiểm soát bản thân: con người có khả năng tự điều chỉnh hành vi của bản thân dựa trên các chuẩn mực và mục tiêu cá nhân. - Môi trường: môi trường xã hội ảnh hưởng đến suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của con người. Lý thuyết này nhấn mạnh vai trò của niềm tin vào năng lực bản thân trong việc thúc đẩy hành vi và động lực của cá nhân. Bandura cho rằng niềm tin vào năng lực bản thân được hình thành qua 4 nguồn chính: trải nghiệm cá nhân, hình mẫu xã hội, 12 lời khuyến khích, phản ứng sinh lý và cảm xúc.
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất sử dụng yếu tố “niềm tin vào năng lực tài chính của bản thân” được rút ra từ lý thuyết SCT để đo lường tác động của nó đến hành vi quản lý tài chính cá nhân của gen Z. Hành vi Yếu tố cá nhân Yếu tố môi trường Hình 2. Mô hình lý thuyết nhận thức xã hội (SCT) Nguồn: Bandura, 1989 2. Lý thuyết triển vọng (PT) (Kahneman và Tversky, 1979) Lý thuyết triển vọng (Prospect Theory - PT) (Kahneman và Tversky, 1979) dựa trên quan điểm cho rằng mọi người đánh giá kết quả dựa trên lợi ích và tổn thất nhận thức được.
Hành vi tránh rủi ro xuất hiện khi có lợi nhuận, trong khi hành vi tìm kiếm rủi ro xuất hiện khi có tổn thất. Lý thuyết này cũng cho rằng mọi người không thích sự mất mát và quan tâm đến tổn thất hơn là lợi nhuận. HCT thể hiện sự khác biệt lớn hơn nhiều so với mô hình tối đa hóa tiện ích tiêu chuẩn. Không giống như các lý thuyết khác, mô hình này tạo ra sự khác biệt trong “kế toán nhận thức” về tổn thất và lợi ích và đề xuất rằng tổn thất được nhận thức quan trọng gấp đôi so với lợi ích trong việc ra quyết định của cá nhân liên quan đến hành vi chấp nhận rủi ro.