Chương 1 được tác giả trình bày tổng cộng có bảy mục chính, mục đầu tiên trình bày về tính cấp thiết của đề tài, trong đó nhấn mạnh việc cần thiết tăng cường giúp KH doanh nghiệp chấp nhận ứng dụng CN tại NH quân đội chi nhánh tỉnh BR-VT. Mục thứ hai tác giả xác định mục tiêu được chia thành hai mục con để trình bày mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể làm kim chỉ nam cho bài luận văn hướng tới. Ba câu hỏi NC cốt lõi cũng được trình bày cụ thể trong chương này. Mục thứ tư được chia thành ba mục con để trình bày về đối tượng khảo sát, đối tượng NC và xác định phạm vi NC của luận văn.
Các phần cuối của luận văn đã trình bày về phương pháp NC, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn cùng với kết cấu luận văn gồm có năm chương chính thức. Sau đây, tác giả tiếp tục trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình NC chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết về ngân hàng số 2.
Lý thuyết về ngân hàng số Để làm rõ về khái niệm Ngân Hàng Số (NHS) và ứng dụng của nó trong thực tiễn, trước hết cần điểm lại cách thức hoạt động của ngân hàng phi số, tức là hoạt động của ngân hàng thường gọi là truyền thống. Cách thức của ngân hàng truyền thống là giữa KH và ngân hàng giao tiếp trực tiếp với nhau thông qua việc giao nhận tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản có giá trị khác, kiểm đếm trực tiếp tại quầy và xác thực hai bên bằng việc ký vào chứng từ thu chi là tờ giấy. Với cách thực thi truyền thống này, công việc chỉ diễn ra trong giờ hành chính và bị giới hạn bởi các điểm yếu khác như năng lực phục vụ, thiếu hụt nguồn nhân lực và các thiết bị phục vụ khác. Trong khi đó, NHS và các hoạt động tương ứng của NHS không thực hiện như phương thức truyền thống, thay vào đó KH và ngân hàng GD với nhau thông qua một nền tảng CN trực tuyến.
Cụ thể đó là KH được ngân hàng cấp tài khoản và tự động thực hiện các GD trên nền tảng Internet và các thiết bị di động thông minh có kết nối internet và các phần mềm ứng dụng do ngân hàng phát hành được cài đặt trong các thiết bị ấy PappuRajan and Saranya (2018). Hoạt động của NHS diễn ra mọi lúc mọi nơi, không bị hạn chế bởi giờ hành chính, bởi nhân viên GD hay bất kỳ một sự ngăn cản nào từ cơ sở vật chất. KH và ngân hàng cũng không cần ký tá gì với nhau, không kiểm đếm tiền mặt và không gặp phải các rủi ro về an ninh, rủi ro mất mác tiền, rủi ro gặp phải tiền giả cũng được hạn chế tối đa. Hiệu quả và tốc độ GD trên nền tảng NHS theo đó cũng tốt hơn gấp nhiều lần so với việc GD truyền thống.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Krishna, Kulin và Trivedi (2019) về NHS cũng có quan điểm tương tự với PappuRajan and Saranya (2018) khi cho rằng mọi thủ tục giấy tờ như phải ký phát tờ Sec, ký các phiếu thanh toán, hợp đồng và các chứng từ tài chính khác đều đã được bãi bỏ khi KH GD với ngân hàng trên nền tảng số. Thông qua nền tảng trực tuyến bằng Website và hoặc ứng dụng trên máy vi tính và trên thiết bị di động thông minh đã hỗ trợ KH làm việc với ngân hàng 24 trên 7 trong thời gian 12 thực. Điều này tránh được việc phải chờ đợi và mất thời gian di chuyển đến bục GD tại các chi nhánh ngân hàng thực tế. Các ngân hàng ảo theo đó phục vụ đầy đủ và rất nhanh các nhu cầu chuyển tiền, gửi tiền, nhận tiền và các GD tài chính khác.
Trước đó, vào năm 2017, học giả Sarma cũng có định nghĩa về NHS là hệ thống cung cấp cho KH thao tác trên các ứng dụng trên máy tính và điện thoại thông minh. Tác giả này cũng khuyến cáo rằng bên cạnh những tiện lợi trên nền tảng số thì điểm bất lợi đó là phải đầu tư từ cả phía KH và cả phía ngân hàng các thiết bị di động, các thiết bị kỹ thuật số, các thuật toán ứng dụng trí tuệ nhân tạo, các ứng dụng về IoT (Internet of Thing). Đến năm 2021, tác giả Anh NT tiếp tục phát triển định nghĩa này của Sarma trong đó chú trọng hơn nữa mặt bảo đảm an toàn và quản trị rủi ro chủ quan như ý đồ lừa đảo và các rủi ro khách quan khác đến từ lỗi hệ thống. Phân biệt ngân hàng số và ngân hàng điện tử Tiong (2020) cho rằng: "Dịch vụ ngân hàng số là mô hình hoạt động KD hiện đại trên cơ sở số hoá tất cả các hoạt động ngân hàng, khác với ngân hàng điện tử chỉ là một dịch vụ bổ sung vào dịch vụ ngân hàng truyền thống." Anh NT (2021) cho rằng: "Dịch vụ ngân hàng số - Digital Banking - rất dễ nhầm lẫn với dịch vụ ngân hàng điện tử - Ebanking.
Theo đó, NHS là việc thực hiện toàn bộ hoạt động cung ứng dịch vụ và GD với KH thông qua các ứng dụng CN. Trong khi đó, DV Ngân Hàng Điện Tử (NHĐT) là một dạng sản phẩm bổ sung của ngân hàng, có ứng dụng CN, internet nhưng đều xuất phát từ các DV truyền thống, cách thức cung ứng DV về cơ bản vẫn mang tính chất của một ngân hàng truyền thống." Từ các định nghĩa gần đây của Tiong và Anh NT có điểm tương đồng và cũng cho thấy bên cạnh điểm giống nhau giữa NHS và NHĐT là đều có chú trọng đến việc ứng dụng khoa học kỹ thuật CN, đặc biệt là CN thông tin và trí tuệ nhân tạo vào trong các hoạt động của một ngân hàng. Sự khác nhau giữa NHS và NHĐT vẫn thể hiện rõ rệt đó là NHS muốn nói lên sự toàn diện trong các hoạt động của một ngân hàng đều không còn sự can thiệp trực tiếp của con người mà đều thông qua hệ thống máy tính kiểm soát toàn bộ mọi hoạt động của quá trình GD, sinh lời, trả gốc và NHĐT là khái 13 niệm chỉ để nói lên một khía cạnh lấy CN để hỗ trợ cho một phần nào đó, một công đoạn nào đó mà một ngân hàng truyền thống đã và sẽ ra lệnh cho NHĐT tham gia thực hiện phần hành của mình. So sánh ngân hàng số và ngân hàng điện tử 2.
Điểm chung Do sở hữu những tính năng, đặc điểm tương tự nhau và cùng hoạt động trên nền tảng internet nên dù thế nào đi nữa, có sự khác biệt nào đó thì cả NHS và NHĐT đều đã góp phần rất lớn vào việc giảm thiểu CP, thời gian và công sức của cả phía ngân hàng và của KH trong suốt quá trình GD tài chính. Điểm chung về tính năng Ngân hàng số (NHS) và ngân hàng điện tử (NHĐT) đều là DV ngân hàng trực tuyến cho phép KH có thể GD không dùng tiền mặt, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán DV, hóa đơn, chuyển tiền,… Hai DV này có nhiều tính năng cơ bản giống nhau như: - Chuyển tiền trong và ngoài hệ thống: KH có thể chuyển tiền cùng ngân hàng hoặc liên ngân hàng nhanh chóng chỉ trong một vài phút. Mọi GD đều có thể thực hiện ngay lập tức, dù vào thứ 7, chủ nhật hay các ngày lễ Tết. - Truy vấn số dư tài khoản: KH có thể xem danh sách tài khoản, số dư khả dụng có trong tài khoản.
- Thanh toán hóa đơn điện tử: Đây là hình thức thanh toán trực tuyến, thông qua một vài thao tác đơn giản, người dùng có thể dễ dàng nạp, chuyển hay rút tiền tùy ý. - Gửi tiết kiệm: KH có thể gửi tiền tiết kiệm ngay trên kênh NHĐT hay NHS mà không cần làm các thủ tục mở sổ tiết kiệm như cách thông thường tại quầy GD. Lợi ích chung So với phương thức thanh toán truyền thống, NHS và NHĐT có vai trò vô cùng quan trọng, mang lại nhiều lợi ích cho ngân hàng và người dùng. Đối với người dùng, NHS và NHĐT sẽ giúp KH tiết kiệm thời gian, công sức di chuyển khi có nhu cầu GD; GD 24/7 chỉ trên các nền tảng số; thực hiện các thủ tục GD, thanh toán nhanh chóng chỉ với một vài cú click hoặc chạm tay, đồng thời tăng tính an toàn cho KH trước khi GD.
Giao dịch (GD), thanh toán mọi lúc, mọi nơi một cách nhanh chóng chỉ bằng một cú nhấp chuột. Đối với ngân hàng, NHS và NHĐT hỗ trợ tiết kiệm CP nhân sự, tăng tốc độ GD, năng suất lao động, từ đó tăng doanh thu, giảm gánh nặng về thủ tục hành chính và vận hành; giúp ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh qua các chiến lược toàn cầu hóa; đồng thời cung cấp các DV trọn gói khi liên kết với các đối tác như công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, công ty tài chính để đáp ứng nhu cầu của KH. Hạn chế chung Chất lượng mạng, tốc độ đường truyền, lỗi kỹ thuật hoặc thiết bị đầu cuối có thể ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ NHĐT/NHS và trải nghiệm KH. Hơn nữa, người dùng có thể gặp rủi ro bị hacker CN cao đánh cắp mật khẩu hoặc thông tin tài khoản, thông tin cá nhân.
Điểm khác biệt Hiện nay, với sự phát triển của CN, hầu hết KH còn mơ hồ khi phân biệt NHS và NHĐT. Dưới đây là một số tiêu chí đánh giá để giúp KH phân biệt dễ dàng hơn thông qua các thông tin được thể hiện tại Bảng 2.1 về phân biệt NHS và NHĐT. Phân biệt ngân hàng số và ngân hàng điện tử Ngân hàng số Ngân hàng điện tử Tiêu chí (Digital Banking) (E-Banking) Đây là một hoặc một vài công Đây là hình thức giao dịch (GD) đoạn được máy tính hóa để cùng các hình thức triển khai đều Khái giúp cho các hoạt động của được máy tính hóa và không còn sự niệm một ngân hàng truyền thống can thiệp của con người trong các được nhanh hơn, hiệu quả khâu của GD. "Chỉ phản ánh một phần khía cạnh của việc áp dụng số hóa "Ngân hàng số có phạm vi rộng và trong lĩnh vực ngân hàng, Bản chất toàn diện hơn ngân hàng điện tử." không đòi hỏi phải tích hợp số hóa đối với toàn bộ hoạt động của ngân hàng." "Phương "Website và điện thoại, máy tính, "Điện thoại, máy tính, laptop, tiện hoạt laptop, ipad kết nối internet." ipad có kết nối internet.