CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ VẤN ĐỀ Ý THỨC CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1. Khái niệm ý thức cá nhân Trong tâm lý học, từ ý thức được dùng theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, khái niệm ý thức đồng nghĩa với tinh thần, tư tưởng. Còn theo nghĩa hẹp, khái niệm ý thức được dùng để chỉ một cấp độ đặc biệt trong tâm lý của con người.
Ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất, chỉ riêng con người mới có, là khả năng con người hiểu được các tri thức mà con người đã tiếp thu được từ trước. Nói một cách khác, ý thức là tri thức của tri thức, phản ánh của phản ánh. Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về thế giới. Như vậy, ý thức là toàn bộ những quan niệm, quan điểm của con người về thế giới và mối quan hệ của con người trong thế giới.
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Ý thức là sự phản ánh có tính năng động, sáng tạo thế giới vật chất vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn. Nguồn gốc của ý thức và đối tượng phản ánh của ý thức thuộc về thế giới khách quan, bị thế giới khách quan quy định. Ý thức bao gồm tri thức, tình cảm và ý chí.
Ý thức giúp con người nhận thức cái bản chất, dự kiến trước kế hoạch hành vi, kết quả của nó, làm cho hành vi mang tính chủ định. Ý thức không chỉ nhận thức sâu sắc về thế giới mà còn bao hàm thái độ đối với nó. Ý thức thể hiện năng lực điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người. Nói đến ý thức, chúng ta không thể không đề cập đến khả năng tự ý thức: đó là khả năng tự nhận thức về mình, tự xác định thái độ đối với bản thân, tự điều khiển, tự hoàn thiện mình.
Một nét độc đáo nữa của ý thức là tác động ý thức phản hồi trên chính mình. Đây là một đặc tính riêng biệt của con người, khác với mọi loài động vật 15 và sinh vật trong trời đất chỉ có đơn thuần một ý thức đối ngoại. Với đặc tính ý thức phục hồi này, con người có thể tự quan sát trên chính mình, biết mình làm gì và biết mình là gì, biết mình sống và biết mình chết, biết mình hôm nay như thế và biết mình ngày mai có thể khác xa, vượt lên hơn ngày hôm nay. Như thế, ý thức làm cho con người đích thực là người, như khi ta nói đó là một con người có ý thức, nghĩa là ý thức về hiện hữu và đang sống hiện hữu của mình, trong liên đới với vạn vật thiên nhiên, lịch sử xã hội.
Theo tác giả Lưu Hồng Khanh, ý thức có mối liên hệ chặt chẽ với cái Tôi bởi “ý thức là một trạng thái tỉnh thức với chức năng quan sát, ghi nhận cảm nhận, nhận định, phẩm định, phân định đối với các sự vật bên ngoài Tôi và đối với các suy tư, cảm xúc và hình ảnh bên trong Tôi. Ý thức như thế có thể gọi là một quan năng nhân định với bốn chức năng: cảm nhận, suy tư, đánh giá và trực kiến. Thể hiện các chức năng nói trên, ý thức phải liên hệ với cái Tôi như chủ thể, như động lực, như đầu não, như trung tâm. Bởi tất cả mọi đối tượng chỉ được ý thức một khi chúng được liên hệ với cái Tôi” [44, tr.
Cũng theo tác giả này, vì cái Tôi là chủ thể và là trung tâm của ý thức nên cái Tôi có khả năng quyết định trên các nội dung của ý thức: nội dung nào có thể được giữ lại trong ý thức, nội dung nào sẽ bị xua đẩy xuống vô thức, cũng như nội dung nào sẽ được tưởng nhớ gọi từ vô thức lên lại ý thức. Chính nhờ cái Tôi mà con người của ta được hình thành, được tiếp nối hiện hữu và được đồng nhất trong căn tính bản sắc của mình. Cũng chính nhờ cái Tôi mà ta có thể đặt liên lạc giữa ý thức và vô thức: cái Tôi sẽ đón nhận những tín hiệu của vô thức được diễn tả qua cảm hứng, sáng kiến, trực kiến, các hình ảnh trong chiêm mộng (mộng đêm và mộng ngày), cái Tôi sẽ tìm hiểu những tín hiệu của vô thức nói trên, diễn tả chúng thành ngôn ngữ cho ý thức, để rồi với ý thức thể hiện các tín thư của các tín hiệu đó trong 16 cuộc sống. Như thế cái Tôi là một cơ quan môi giới giữa ý thức và vô thức.
Trung tâm và chủ thể của ý thức là cái Tôi nhưng cái Tôi vẫn có liên hệ với vô thức, bằng cách tiếp nhận vô thức và ý thức hóa vô thức. Ý thức không những là khởi điểm mà còn là cơ quan kiểm nghiệm các nội dung từ vô thức đưa đến và sau cùng là đích điểm bởi ý thức hóa được các nội dung từ lâu chìm lặn trong vô thức. Từ ý thức chúng ta nói đến ý thức cá nhân. Ý thức cá nhân là nhận thức của một cá nhân về thế giới và chính bản thân mình trong tư cách chủ thể nhận thức.
Nói đến ý thức cá nhân là nói đến toàn bộ sự tồn tại của con người trong những mối quan hệ cụ thể. Nó gắn với những nhu cầu vật chất, tinh thần, tình cảm, thẩm mỹ của mọi đối tượng. Ý thức cá nhân là một trong những yếu tố giúp con người tự nhìn nhận mình, là khát vọng lớn lao đi tìm bản thân và luôn tiềm ẩn trong mỗi con người. Từ trước đến nay, khái niệm ý thức cá nhân đã từng được nhiều nhà nghiên cứu như: Platon, Aristotle, Descartes, Epiquya đưa ra.
Các nhà triết học duy tâm nhìn nhận vấn đề ý thức cá nhân dưới hai phương diện: phương diện thứ nhất là cái tôi với tư cách là khách thể của sự nhận thức; phương diện thứ hai là cái tôi với tư cách là chủ thể của tư duy, chủ thể của nhận thức thế giới. Ở cả hai phương diện trên, chúng ta nhận thấy những nhà triết học duy tâm đều gắn liền vấn đề ý thức cá nhân với phương diện cái tôi cá nhân, xem cái tôi cá nhân là một chủ thể của tư duy và nhận thức. Chủ nghĩa duy tâm coi ý thức cá nhân như là một thực thể độc lập có sẵn trong cá nhân, biểu hiện xu hướng về bản thân mình, tự khẳng định cái tôi riêng biệt tách rời cái ta chung của xã hội. Còn các nhà duy vật biện chứng lại có cách nhìn khác về cái tôi cá nhân.
Theo họ, con người vừa là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của sự tiến hoá sinh vật của loài mà thành, đồng thời nó lại là sản phẩm của lịch sử-xã hội. Mác đã 17 khẳng định, con người không bao giờ tách ra khỏi cộng đồng xã hội, nó vừa mang bản chất riêng nhưng đồng thời lại nằm trong mối quan hệ qua lại với xã hội. Ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì sẽ tồn tại những kiểu ý thức riêng của mỗi con người khác nhau để phù hợp với điều kiện hoàn cảnh xã hội của mỗi thời đại. Triết học Mác xít khẳng định, khi mỗi thành viên ở trong mỗi tập thể bắt đầu có ý thức tách ra khỏi một chỉnh thể nào đó, có nghĩa là đã bắt đầu ý thức về bản thân mình, về quyền và nghĩa vụ của bản thân mình.
Tự ý thức là ý thức hướng về nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài. Khi phản ánh thế giới khách quan, con người tự phân biệt mình, đối lập mình với thế giới, đó là sự nhận thức mình như là một thực thể vận động, có cảm giác, tư duy, có các hành vi đạo đức và vị trí xã hội. Mặt khác, sự giao tiếp xã hội và hoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con người nhận rõ bản thân mình và tự điều chỉnh mình theo các quy tắc tiêu chuẩn mà xã hội đề ra. Ngoài ra văn hoá cũng đóng vai trò là cái gương soi giúp cho con người tự ý thức bản thân.
Như vậy, theo quan điểm của các nhà triết học thì vấn đề ý thức là vấn đề chủ quan luôn tồn tại trong bộ óc của mỗi con người. Vấn đề ý thức cá nhân hiểu theo quan điểm của các nhà triết học chính là tính có chủ ý của bản thân mỗi người. Tuỳ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh và sự nhận thức của bản thân mỗi người mà ý thức cá nhân sẽ có những bộc lộ khác nhau. Các nhà tâm lý học như R.Galperin, Arnold… cũng đã đưa ra nhiều quan niệm về ý thức cá nhân.
Họ cho rằng, vấn đề ý thức con người là vô cùng phong phú và phức tạp, liên quan đến nhiều khoa học khác nhau. Theo các tác giả này, tính tích cực tâm lý của con người biểu hiện qua các cấp độ khác nhau: con người với tư cách là cá nhân, con người với tư cách là chủ thể, con người với tư cách là nhân cách. Dù quan niệm có khác nhau, nhưng điểm gặp gỡ trong quan niệm của các nhà khoa học này là ở chỗ họ 18 khẳng định ý thức con người có quan hệ mật thiết với thế giới và ý thức cá nhân không phải đơn thuần là những kiến thức thu nhận được từ bên ngoài mà còn là sự vận động bên trong để tự ý thức về mình như là một cá nhân có bản ngã riêng. Ý thức cá nhân hình thành trong hoạt động và thể hiện trong sản phẩm hoạt động của cá nhân và chính hoạt động tạo ra sản phẩm mà cá nhân hình thành, phát triển tâm lý ý thức.
Bên cạnh đó, ý thức của cá nhân còn được hình thành trong mối quan hệ giao tiếp giữa cá nhân với người khác, với xã hội. Sự phát triển của một cá thể phụ thuộc vào sự phát triển của nhiều cá thể khác mà nó đã giao tiếp trực tiếp hoặc gián tiếp. Bên cạnh đó, ý thức cá nhân hình thành bằng con đường tiếp thu nền văn hóa xã hội, ý thức xã hội. Ngoài ra, ý thức cá nhân hình thành bằng con đường tự nhận thức, tự đánh giá, tự phân tích hành vi của mình, người ta gọi đó là ý thức bản ngã.
Một điều cần lưu ý là ý thức cá nhân không trùng khớp với ý thức xã hội. Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội bao gồm những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống… nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.