chương 1, tác giả nêu ra lý do lựa chọn đề tài cụ thể bối cảnh diễn biến của ngân hàng xanh trên thế giới và tính cấp thiết của đề tài tại Việt Nam. Tiếp tục, triển khai mục tiêu tổng quan, cụ thể, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và đưa ra kết cấu bài viết. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Các khái niệm nghiên cứu liên quan 2.
Tổng quan ngân hàng xanh 2. Khái niệm Nền công nghiệp hóa hiện đại hóa trên toàn cầu kích thích nhu cầu ngày càng tăng trưởng của người dân và trở thành biểu tượng cho sự thịnh vượng, phát triển của một nền kinh tế. Để đáp ứng các nhu cầu, con người không ngừng khai thác môi trường, điều đó làm xáo trộn sự cân bằng sinh thái. Các thảm họa công nghiệp và thiên tai liên tiếp xảy ra trong vài thập kỷ qua đều có mối liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Trước hồi chuông cảnh báo từ thiên nhiên, nhiều hội nghị và chương trình khác ra sức tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vấn đề này. Đồng thời, thiết lập mục tiêu chuyển đổi sang nền kinh tế xanh hướng đến sự bền vững môi trường và phát triển bền vững đã trở t hành chủ đề nghị sự quan trọng trong cộng đồng quốc tế. Trên thế giới, khái niệm Ngân hàng xanh được biết đến phổ biến trong những năm gần đây, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Bởi vì các quốc gia này phải đối diện với những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu và các yêu cầu về mặt bảo vệ môi trường đang bị hy sinh nhằm đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Chúng ta đều biết rằng các ngân hàng nắm giữ vai trò “mạch máu” trong vận hành nền kinh tế, và tại sao việc thay đổi mô hình hoạt động trong hệ thống tài chính hướng tới phát triển bền vững, trách nhiệm kinh doanh và trách nhiệm xã hội, đạo đức, môi trường là điều cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Với lẽ đó, Ngân hàng xanh nổi lên như một hình mẫu về ngân hàng trong tương lai, là tiền đề cho việc hướng đến một nền kinh tế xanh phát triển bền vững. Khái niệm Ngân hàng xanh lần đầu được phát triển và phổ biến ở các nước phương Tây vào năm 2003 – mục tiêu bảo vệ môi trường. Theo Viện Phát triển và Nghiên cứu Công nghệ ngân hàng (2013), Ngân hàng xanh là một thuật ngữ bao 11 trùm đề cập đến các thông lệ và hướng dẫn giúp ngân hàng bền vững về các khía cạnh kinh tế, môi trường và xã hội.
Hay định nghĩa khác, ngân hàng xanh là thúc đẩy thực hành và giảm lượng khí thải carbon từ hoạt động ngân hàng hằng ngày và hỗ trợ cho các hoạt động thân thiện với môi trường. Các thực hành ngân hàng xanh thông qua hoạt động đầu tư và cho vay nhằm duy trì sự phát triển bền vững giúp khôi phục môi trường tự nhiên (Deka,2015). Nói cách đơn giản, ngân hàng xanh là những nỗ lực của các ngân hàng nhằm hỗ trợ đầu tư thân thiện với môi trường đó là bản chất của ngân hàng xanh, ngân hàng có trách nhiệm với xã hội, hay còn gọi ngân hàng đạo đức hoạt động một cách tích cực, thông minh để giảm nhẹ tác động tiêu cực của hoạt động ngân hàng tới môi trường hướng đến sự phát triển bền vững trong tương lai. Nói đến phát triển bền vững – xu hướng kinh tế xanh tương lai, đã có nhiều tác giả nhắc đến thuật ngữ “bền vững” khi đề cập đến ngân hàng xanh.
Chẳng hạn, trong bài nghiên cứu của (Imeson & Sim,2010) phát biểu rằng ngân hàng xanh là ngân hàng bền vững và ngân hàng chỉ có thể phát triển bền vững nếu đặt lợi ích của mình gắn liền với các lợi ích xã hội và môi trường. Theo nghiên cứu khác của Jeucken & Bouma (1999), Tara và ctg (2015) nhắc đến ngân hàng xanh là cách thức cung ứng dịch vụ ngân hàng hướng đến hỗ trợ hoạt động có tác động tích cực đối với môi trường, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm khí thải carbon và thúc đẩy phát triển bền vững. Ngoài ra, một khía cạnh quan trọng của ngân hàng xanh là thúc đẩy phát triển bền vững bằng cách hỗ trợ các dự án và sáng kiến thân thiện với môi trường như năng lượng tái tạo, nông nghiệp thân thiện với môi trường, giao thông và quản lý chất thải. Trong đó, các ngân hàng xanh có vai trò thúc đẩy trách nhiệm xã hội bằng các hỗ trợ các dự án cải thiện phúc lợi xã hội, như giáo dục, y tế và nhà ở giá rẻ (Hasan, 2022).
Mặt khác, các nhà lãnh đạo thế giới cũng khởi xướng phát triển tài chính xanh giảm thiểu các vấn đề nghiêm trọng từ môi trường. Theo Liên Hợp Quốc (World Economic Forum [WEF], 2020). Tài chính xanh đóng vai trò thiết yếu trong việc đạt được mục tiêu phát triển kinh tế bền vững. 12 Vào năm 1980, ý tưởng ngân hàng xanh đầu tiên được xây dựng tại ngân hàng của Hà Lan, khởi đầu cho sự phát triển bền vững môi trường trong lĩnh vực ngân hàng.
Tại Hoa Kì, ngân hàng xanh lần đầu tiên bắt đầu hoạt động năm 2009. Sau đó, các ngân hàng trên khắp thế giới cũng triển khai hoạt động ngân hàng xanh như ngân hàng ở Bangladesh - Ấn Độ,… Có thể nói, sáng kiến ngân hàng xanh đem đến lợi ích cho môi trường bằng cách giảm lượng khí thải carbon của người tiêu dùng hoặc ngân hàng. Ví dụ, ngân hàng Nhân dân của Sri Lanka đã thử nghiệm khái niệm ngân hàng xanh năm 2013 và thành công ra mắt sản phẩm tài khoản tiết kiệm “YES”. Sản phẩm cung cấp các dịch vụ ngân hàng không cần giấy tờ nhằm khuyến khích thế hệ trẻ bảo vệ môi trường bằng cách sử dụng tối thiểu giấy, các dịch vụ ngân hàng sẽ được thực hiện điện tử, bao gồm bảng sao kê, thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng, ngân hàng internet (Daily FT, 2018).
Sự thật rằng, có nhiều điểm khác biệt giữa ngân hàng truyền thống và ngân hàng xanh. Điểm khác biệt đáng chú trọng nhất, chính là ngân hàng xanh lấy yếu tố môi trường làm cốt lõi, và mục đích cung cấp các khoản tín dụng xanh, dự án mà tuân thủ tất cả các tiêu chí an toàn môi trường. Trong xã hội có ý thức và thân thiện với môi trường này, câu thần chú “Go Green” thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống, ở lĩnh vực ngân hàng cũng đã áp dụng các biện pháp nhằm giảm lượng khí thải carbon. Nó đóng vai trò cơ bản trong tăng trưởng kinh tế và là nhà tài trợ chính cho người tiêu dùng (Ozili và Opene,2021).
Nhận thức được tầm quan trọng đó, làn sóng thay đổi lớn khi có nhiều ngân hàng bắt đầu điều chỉnh ra quyết định đầu tư của họ theo ba điểm mấu chốt: con người, hành tinh, lợi nhuận. Các ngân hàng đã kết hợp khái niệm xanh vào hoạt động cho vay và đầu tư của mình, chuyển sự chú ý của khách hàng sang quản lý môi trường và triển khai công nghệ xanh có liên quan (Masukujjaman và Aktar,2014). Theo nghiên cứu của (Ganesan, Bhuvanneswari, 2016) tác giả đã nói các ngân hàng có thể xanh thông qua việc mang lại những thay đổi trong sáu lĩnh vực hoạt động chính của ngân hàng – thay đổi trong quản lý đầu tư, thay đổi quản lý tiền gửi, thay dổi quản lý nội bộ, thay đổi quy trình tuyển dụng và phát triển 13 nhân lực, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR), và tạo ý thức cho khách hàng đại chúng. Ngân hàng xanh chính là chiến lược mà bất kì ngân hàng thông thường nào cũng có thể áp dụng để đảm bảo sự phát triển bền vững (Building và Kumara, 2017).
Tại hội thảo “Tài chính và ngân hàng xanh” tổ chức vào ngày 25/06/2013, được tổ chức dưới sự kết hợp của Ngân hàng nhà nước và Bộ Tài chính và Tổ chức hợp tác phát triển Đức (GIZ). Đại diện từ Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) giải thích “ngân hàng xanh là các hoạt động, nghiệp vụ của hệ thống ngân hàng nhằm khuyến khích các hoạt động vì môi trường và giảm phát thải carbon”. Tóm lại, các định nghĩa về ngân hàng xanh trong và ngoài nước có thể hiểu rằng một ngân hàng được gọi là xanh sẽ phải thực hiện các hoạt động như khuyến khích khách hàng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ xanh, áp dụng các tiêu chuẩn môi trường khi cấp duyệt vốn vay, cấp tín dụng ưu đãi cho các dự án giảm phát thải carbon, dự án năng lượng tái tạo,… Theo nghiên cứu của (Millat và ctg,2013) đề cập rằng ngân hàng xanh có thể tiếp cận theo hai hướng: (1) tập trung xanh hóa hoạt động nội bộ của ngân hàng xanh; (2) tài trợ cho các dự án thân thiện với môi trường, chú trọng yếu tố môi trường xã hội trong quá trình thẩm định cho vay. Theo (Bahl,2012) ngân hàng xanh bao gồm các hoạt động ngân hàng trực tuyến, thực hiện các giao dịch qua mạng thay vì mở rộng chuỗi chi nhánh ngân hàng.
Ngoài ra, cũng có khái niệm công nghệ ngân hàng xanh, nó được coi là một phương pháp áp dụng các công nghệ tiên tiến hỗ trợ việc cung cấp hiệu quả các dịch vụ ngân hàng. Nôm na, thực hiện công nghệ ngân hàng xanh thúc đẩy các hoạt động ngân hàng thông qua các kỹ thuật công nghệ tài chính (Singal, 2014). Về khía cạnh hoạt động của ngân hàng xanh, (Hạ Thị Thiều Dao và Nguyễn Đăng Hải Yến, 2019) đề cập thông qua hai khía cạnh, bao gồm: (1) hoạt động từ bên trong nội bộ ngân hàng và (2) hoạt động từ bên ngoài ngân hàng. Tóm lại, có thể chia hoạt động ngân hàng xanh thành các khía cạnh sau.
14 Khía cạnh “Xanh hóa” hoạt động nội bộ ngân hàng Trở thành ngân hàng xanh thực thụ trước tiên một ngân hàng phải “xanh hóa” nội bộ, còn được gọi là Hướng dẫn văn phòng xanh (Green Office Guide – COG). Thực hiện bằng cách khuyến khích, triển khai các công nghệ thông tin trên toàn hệ thống ngân hàng. Chẳng hạn như sử dụng rộng rãi các phương tiện liên lạc trực tuyến, tiết kiệm năng lượng điện, giấy sử dụng hiệu quả mực in, văn phòng phẩm, sử dụng các dạng năng lượng tái tạo (Hossain & Ahmed, 2015; Julia & Kassim, 2020). Khía cạnh “Xanh hóa” hoạt động bên ngoài ngân hàng Đối với hoạt động “xanh hóa” bên ngoài ngân hàng chính là các sản phẩm, dịch vụ công nghệ và sản phẩm thân thiện với môi trường, các dự án và đầu tư hướng đến khách hàng.